- Tranh chấp gì? "Hà Văn Tr"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T1 tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số B - Phú Thọ; địa chỉ: Thôn G, xã T, tỉnh Phú Thọ.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 18/QĐ - TA | Phú Thọ, ngày 21 tháng 10 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - PHÚ THỌ
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Trang.
Ngày 21 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 17/QĐ - TA ngày 14 tháng 10 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Hà Văn T1. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 12 tháng 6 năm 1988.
Số CCCD: 026088009923 ngày cấp 14/3/2023. Nơi cấp: Bộ C1.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hoá: 12/12.
Hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã H, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: Thôn X, xã H, tỉnh Phú Thọ.
Tiền án, tiền sự: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông Hà Văn C và bà Hà Thị T2.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Xuân T3 - Cán bộ Công an xã H (theo giấy ủy quyền ngày 06/10/2025).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ: Ông Dương Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Hà Văn T1 là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2016, loại ma túy sử dụng là ma túy đá, hình thức sử dụng là hút. Ngày 16/9/2025, Công an xã H đến làm việc. Tại buổi làm việc, T1 đã tự thừa nhận sáng ngày 16/9/2025 T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị phát hiện dương tính với ma túy khi xét nghiệm nước tiểu. Cùng ngày, Công an xã H có giấy đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với T1. Theo đó Trạm Y tế xã H có kết quả xác định Hà Văn T1 nghiện chất ma túy. Công an xã H đã lập biên bản yêu cầu Hữu trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày 17/9/2025 đến ngày 23/9/2025 phải đến Ủy ban nhân dân xã H để làm thủ tục đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc đến Trung tâm Y tế K để đăng ký điều trị các chất dạng thuốc phiện thay thế theo quy định nhưng hết thời hạn, T1 không tự nguyện đăng ký.
Tại bản tự khai, bản tường trình ngày 16/9/2025 và biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 24/9/2025 của Công an xã H, T1 đã thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bản thân đang nghiện ma túy, kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế xã H là khách quan. Ngày 06/10/2025, Công an xã H có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T1.
Với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của T1, Công an xã H đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T1 tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số B - Phú Thọ với thời hạn từ 15 tháng đến 20 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T1 đảm bảo đúng trình tự thủ tục và đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 105, Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi bổ sung năm 2020); Điều 27, Điều 28, khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma tuý; điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị quyết 116/2021/NQ- CP; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1 - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao để xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T1 với thời hạn từ 18 tháng đến 20 tháng.
Người bị đề nghị Hà Văn T1 có mặt tại phiên họp, T1 thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đúng như bản tự khai, bản tường trình, các biên bản làm việc tại Công an xã H và xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, thấy rằng:
Về tính hợp pháp của hồ sơ: Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 2 Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1 - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao.
Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị áp dụng: Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của T1 đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây tác động tiêu cực đến quá trình đấu tranh về tệ nạn ma tuý trong xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Mặc dù, T1 là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; T1 nhận thức được rõ tác hại của ma túy nhưng ngày 16/9/2025 T1 lại có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã H đã yêu cầu T trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày 17/9/2025 đến ngày 23/9/2025 phải đến Ủy ban nhân dân xã H để làm thủ tục đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc đến Trung tâm Y tế K để đăng ký điều trị các chất dạng thuốc phiện thay thế theo quy định nhưng T1 không thực hiện là thuộc trường hợp “không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện” theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma tuý; điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Do vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T1.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại phiên họp T1 thừa nhận các tài liệu trong hồ sơ thể hiện T1 là người nghiện ma túy và đã tự nguyện khai báo về hành vi vi phạm của mình, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính. T1 không có tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Xét thấy, hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của T1 đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc sử dụng các chất ma tuý, góp phần để tệ nạn ma tuý gia tăng, gây hiểm họa cho toàn xã hội nói chung và gây tác hại cho sức khỏe, phẩm giá cũng như phá hoại hạnh phúc, tài sản của đối tượng và gia đình nói riêng. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T1 như đề nghị của Công an xã H và đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ là phù hợp.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96; Điều 103; khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 106; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.
Căn cứ Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Căn cứ Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1 - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T1 tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số B - Phú Thọ; địa chỉ: Thôn G, xã T, tỉnh Phú Thọ.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ có quyền kháng nghị, Công an xã H có quyền kiến nghị quyết định này và người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại Quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành Quyết định: Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Công an xã H tổ chức thi hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 11 - Phú Thọ; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 - Phú Thọ; - Công an xã Hải Lựu; - UBND xã Hải Lựu; - Người bị áp dụng (Hà Văn Trung); - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (ĐÃ KÝ) Nguyễn Thị Thu Trang |