vanban.org

Quyết định 18/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng T tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội Phúc Sơn Nghệ An (địa chỉ: xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An).

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mƣời tám) tháng, kể từ ngày ngày 04/9/2018. Nguyễn Trọng T có quyền khiếu nại; Phòng Lao động- Thương binh và xã hội huyện Đô Lương có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 3 n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Trọng T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng T tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội Phúc Sơn Nghệ An (địa chỉ: xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An).
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 18/QĐ-TAĐô Lương, ngày 28 tháng 9 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN

,

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Lưu Thị Hồng Thể

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Kỳ

Ngày 28 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 18/QĐ-TA ngày 20 tháng 9 năm 2018 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Trọng T

Giới tính: Nam

Sinh ngày: 10/10/1977

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không

Trình độ học vấn: 03/12

Nguyên quán: huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Hộ khẩu thường trú: xóm 3 xã ĐS, huyện Đô Lương, Nghệ An.

Nơi ở: xóm 3 xã ĐS, huyện Đô Lương, Nghệ An.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Tiền án: Không;

Con ông Nguyễn Trọng Đ và bà Nguyễn Thị B.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Đình Minh, Phó Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An: bà Phan Thị Thùy Dung, Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo trình bày ngày 29/8/2018, Nguyễn Trọng T thừa nhận: vào ngày 28/8/2018, Nguyễn Trọng T đã có hành vi sử dụng ma túy trái phép bằng hình thức “chích” tại nghĩa trang xã ĐS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Số ma túy mà T sử dụng là nhờ người mua hộ. Tuấn bắt đầu sử dụng ma túy là tháng 7 năm 2015.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đô Lương đề nghị: Nguyễn Trọng T, sinh ngày 10/10/1977, trú tại xóm 3 xã ĐS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An là đối tượng nghiện ma túy đã bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy; vợ đối tượng là chị Lê Thị Thơ có đơn xin gửi bị cáo vào trung tâm cai nghiện quản lý trong thời gian lập hồ sơ; từ ngày 04/9/2018 đối tượng Tuấn đã được Trung tâm giáo dục lao động xã hội Phúc Sơn tiếp nhận. Đề nghị Toà án nhân dân huyện Đô Lương áp dụng điều 95, điều 96, điều 103, điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng T với thời hạn 22 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương phát biểu ý kiến: Quá trình lập hồ sơ theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; việc giao nhận, thụ lý hồ sơ; phân công Thẩm phán xem xét giải quyết; quyết định mở phiên họp và trình tự tại phiên họp được thực hiện theo đúng các quy định tại điều 6, điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và điều 3, điều 7, điều 8, điều 9, điều 11, điều 16 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng T với thời hạn từ 18 đến 20 tháng.

Nguyễn Trọng T có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đề nghị đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của cơ quan đề nghị; ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp, ý kiến của người bị đề nghị; thấy:

1. Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính:

Thời điểm Nguyễn Trọng T sử dụng trái phép ma túy lần cuối bị phát hiện là ngày 28/8/2018 nên việc họp xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 28/9/2018 là trong thời hiệu theo đúng quy định tại điều 4 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

2. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

- Thẩm quyền lập hồ sơ: đối tượng Nguyễn Trọng T có nơi cư trú ổn định tại xóm 3 xã ĐS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An nên theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính Chủ tịch UBND xã ĐS thực hiện việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại trung tâm là đúng pháp luật.

- Về căn cứ thực tế của việc lập hồ sơ:

Ngày 09/3/2018, Chủ tịch UBND xã ĐS, huyện Đô Lương đã ra Quyết định số 38/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nguyễn Trọng T trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày 09/3/2018 và đã chấp hành xong theo Giấy chứng nhận số 69/GCN-UBND ngày 09/6/2018. Tính đến ngày 28/9/2018, T đã trên 18 tuổi, học vấn và nhận thức bình thường.

Trên cơ sở Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 29/8/2018 và Phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy ngày 30/8/2018 của ông Trần Văn Luyện, cán bộ Trạm y tế xã ĐS thì cơ sở xác định Nguyễn Trọng T có kết quả dương tính với ma túy.

Như vậy, căn cứ vào quy định tại điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 đối tượng Nguyễn Trọng T thuộc diện bị áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Về trình tự, thủ tục và tài liệu có trong hồ sơ:

Qua kiểm tra các tài liệu trong hồ sơ, thấy: ngày 29/8/2018, Công an xã ĐS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã lập Biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Trọng T đồng thời đề nghị Trạm y tế xã ĐS cử bác sỹ tiến hành xét nghiệm tình trạng nghiện của đối tượng; ngày 30/8/2018, việc xét nghiệm được thực hiện với kết quả trả lời Nguyễn Trọng T nghiện ma túy; Công an xã ĐS đã lập bản tóm tắt lý lịch và đối tượng có bản tường trình về hành vi của mình. Ngoài ra, hồ sơ còn có thủ tục áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nguyễn Trọng T và Giấy chứng nhận đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Ngày 30/8/2018, Công an xã ĐS đã thông báo cho Nguyễn Trọng T về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để đối tượng thực hiện quyền đọc, ghi chép hồ sơ theo quy định tại khoản 3 điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và điều 11 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

Vì vậy, đủ căn cứ để khẳng định, hồ sơ được lập đúng trình tự, thủ tục cũng như việc thu thập các tài liệu đã đầy đủ theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 3 điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; điều 11 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và khoản 2 điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.

- Về việc thẩm tra hồ sơ: Ngày 04/9/2018, Công an xã ĐS có văn bản số 58/ĐN-CAX gửi Phòng tư pháp huyện Đô Lương về việc đề nghị thẩm định tính pháp lý của hồ sơ áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc Trung tâm; ngày 13/9/2018, việc họp thẩm định hồ sơ được thực hiện và Trưởng phòng tư pháp UBND huyện Đô Lương đã ban hành thông báo số 61/TB-TP ngày 15/9/2018 gửi Trưởng phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Đô Lương về kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ với kết luận: Hồ sơ đề nghị đã đảm bảo tính pháp lý.

Như vậy, việc thẩm tra hồ sơ đã đảm bảo đúng quy định tại khoản 3 điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 điều 12 Nghị định 221/2013/NĐ-CP và khoản 4 điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP.

- Việc gửi đối tượng vào trung tâm cai nghiện quản lý tạm thời trong thời gian lập hồ sơ: ngày 27/8/2018, chị Lê Thị Thơ – vợ đối tượng T đã làm đơn đề nghị lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện để uống thuốc cắt cơn. Ngày 04/9/2018, Trung tâm giáo dục lao động xã hội Phúc Sơn đã tiếp nhận đối tượng T vào trung tâm cai nghiện. Điều này là phù hợp với quy định tại điểm b tiểu mục 6 mục II Hướng dẫn liên ngành số 217/HDLN ngày 03/8/2016 của liên ngành Lao động – thương binh và xã hội – y tế - tư pháp – tài chính – công an – tòa án nhân dân – viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An.

3. Về tính chất, mức độ của hành vi vi phạm:

Nguyễn Trọng T đã sử dụng trái phép ma túy từ năm 2015 cho đến nay và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã/phường/thị trấn trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày 09/3/2018. Mặc dù đã được chính quyền địa phương giáo dục và bồi dưỡng nhận thức về tác hại của ma túy nhưng T vẫn không chịu tu dưỡng, sửa chữa lối sống buông thả, hủy hoại bản thân và tiếp tục tái sử dụng ma túy; hành vi của T đã làm mất tác dụng và ý nghĩa nhân đạo của chính sách hỗ trợ người nghiện ma túy cai nghiện, tái hòa nhập cộng đồng của Đảng và Nhà nước. Thời gian T sử dụng ma túy gần đây nhất là vào ngày 28/8/2018 nên vào ngày 16/9/2018, Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đô Lương có Văn bản đề nghị xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Trung Tâm gửi Tòa án đối với đối tượng Nguyễn Trọng T là có căn cứ và cần thiết nên được chấp nhận và cần tính thời gian thi hành việc cai nghiện bắt buộc bắt đầu từ ngày 04/9/2018 (là ngày đối tượng được tiếp nhận vào trung tâm giáo dục lao động xã hội Phúc Sơn quản lý tạm thời).

Bản thân T chưa có tiền án, quá trình lập hồ sơ thái độ thành khẩn khai báo nên cần xem xét giảm nhẹ cho Nguyễn Trọng T với mục đích giáo dục, cảm hóa đối tượng trở thành người có ích cho xã hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trọng T tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội Phúc Sơn Nghệ An (địa chỉ: xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mƣời tám) tháng, kể từ ngày ngày 04/9/2018.

3. Nguyễn Trọng T có quyền khiếu nại; Phòng Lao động- Thương binh và xã hội huyện Đô Lương có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đô Lương phối hợp với Công an huyện Đô Lương có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ