vanban.org

Quyết định 18/2024/QĐCNTTLH — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 15 tháng 01 năm 2024, cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị H và ông Lê Văn C thuận tình ly hôn. Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị H và ông Lê Văn C chấm dứt kể từ ngày Tòa án ban hành Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án. Bà Lê Thị H và ông Lê Văn C không yêu cầu giải q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị Hường xin ly hôn tranh chấp nuôi con với ông Lê Văn Chính"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 15 tháng 01 năm 2024, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 115 Luật hôn nhân; Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CL
TỈNH BT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 18/2024/QĐCNTTLHCL, ngày 31 tháng 01 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC BÊN THAM GIA HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN

Căn cứ các điều 32, 33, 34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Điều 51, 55, 57, 58 và Điều 115 của Luật hôn nhân, gia đình năm 2014.

Căn cứ yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của bà Lê Thị H với ông Lê Văn C.

Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị H.

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 15 tháng 01 năm 2024 về thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải sau đây:

Người yêu cầu: bà Lê Thị H, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp BT, xã HN, huyện CL, tỉnh BT.

Người bị kiện: ông Lê Văn C, sinh năm: 1982; địa chỉ: ấp BT, xã HN, huyện CL, tỉnh BT.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 15 tháng 01 năm 2024 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 15 tháng 01 năm 2024, cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị H và ông Lê Văn C thuận tình ly hôn. Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị H và ông Lê Văn C chấm dứt kể từ ngày Tòa án ban hành Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án.

Bà Lê Thị H và ông Lê Văn C không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn.

- Về con chung: ông Lê Văn C được quyền trực tiếp nuôi hai người con chung của ông với bà Lê Thị H là cháu Lê Minh T, sinh ngày 20/02/2006 và cháu Lê Minh K, sinh ngày 26/8/2002. Ghi nhận việc ông C không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con đều có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con chung, ông C, bà H hoặc cá nhân, tổ chức theo qui định của Luật hôn nhân gia đình có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng bà H, ông C có quyền yêu cầu Tòa giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà Lê Thị H và ông Lê Văn C không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa giải quyết gì về tài sản.

- Về nợ chung: Bà Lê Thị H và ông Lê Văn C xác định không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ