vanban.org

Quyết định 18/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 15/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo lại cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HS-ST.
Ngày 15-3-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: ông Vũ Quang Chung.

Hội thẩm nhân dân: ông Hà Quang Văn và ông Bùi Khắc Thái.

- Thư ký phiên tòa: ông Bùi Ngọc Tạo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Xuân Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2023/TLST - HS ngày 14/02/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/QĐXXST - HS ngày 02/3/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Việt T sinh năm 1981, tại Bắc Giang; giới tính: Nam; nơi cư trú: xóm C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Nguyễn Văn Đ, con bà: Dương Thị N; vợ: Bùi Thị Nh, có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2022 và đến ngày 23/12/2022, được thay đổi biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

* Người làm chứng: anh Nông Văn T; anh Nguyễn Văn Th; chị Phạm Thụy D và chị Bùi Thị N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 14/12/2022, khi Nguyễn Việt T lên trang mạng Facebook cá nhân thì tình cờ thấy có người nam giới không quen biết giao bán pháo nổ trên mạng. Do thời điểm này là thời gian sắp gần đến Tết Nguyên Đán Quý Mão năm 2023, T đã nảy sinh ý định đi mua pháo nổ về đốt sử dụng vào đêm giao thừa. Nguyễn Việt T đã liên hệ qua mạng với người nam giới để đặt mua 05 hộp pháo hoa nổ (loại pháo giàn) và 60 quả pháo nổ (loại pháo trứng) với giá tiền 4.500.000 đồng, thì người này đồng ý, chỉ địa điểm và hẹn T lên thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang để bán pháo.

Khoảng 19 giờ cùng ngày T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius BKS: 98N3-4332 và mang theo 01 túi xách màu nâu treo ở xe để đựng pháo đi từ nhà đến thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang để mua pháo về sử dụng. Tại thành phố Bắc Giang (T không xác định được địa điểm cụ thể),T đã được gặp người nam giới nêu trên như đã hẹn. Khi gặp nhau T đã hỏi mua pháo và người nam giới đã bán cho T 05 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau, đều có KT(14,5 x 15 x 15) cm, được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài và 60 vật có hình dạng giống bóng điện sợi đốt có đặc điểm giống nhau, đầu phía trên hình cầu, đường kính 04 cm được bọc bằng giấy màu nâu, thân phía dưới hình trụ tròn dài 03 cm, đường kính 2,6 cm được bọc bằng giấy nilon màu vàng, có chữ nước ngoài có gắn đoạn dây màu xanh với tổng giá tiền là 4.500.000 đồng. T cầm lấy kiểm tra và xác định đúng là pháo nổ nên đã cất giấu toàn bộ số pháo này vào 01 túi xách màu nâu mang theo từ nhà rồi để tại vị trí giá để đồ ở giữa thân xe và điều khiển xe mô tô đi về. Sau khi về được quãng đường khoảng 5km, T đã đi vào nhà nghỉ ở ven đường tại tỉnh Bắc Giang (T không nhớ địa chỉ cụ thể) để thuê phòng ngủ tại đây. Đến khoảng 04 giờ 30 phút, ngày 15/12/2022, T dậy trả phòng rồi điều khiển xe mô tô chở theo pháo ra về.

Đến khoảng 07 giờ ngày 15/12/2022, T điều khiển xe mô tô đi về đến địa phận thôn 1, xã P, huyện N rồi đi vào quán ăn mang tên “Hải Dung” (do chị Phạm Thụy D, sinh năm 1983 ở cùng thôn làm chủ) để ăn sáng và dựng xe mô tô có chiếc túi đựng pháo ở gần nơi vị trí T ngồi. Sau khi ăn sáng xong, T lên xe mô tô định nổ máy mang pháo ra về thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Ninh Bình đang làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn xã P, huyện N phát hiện T có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu T đứng yên tại chỗ để kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tổ công tác đã thu giữ của Nguyễn Việt T: 05 khối dạng hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau, KT(14,5 x 15 x 15) cm, được bưng kín 02 đáy bằng giấy bóng màu vàng và bìa cát tông màu nâu, mặt trên bọc giấy in hoa văn nhiều màu sắc, có nhiều chữ nước ngoài, mỗi hộp đều có hai đoạn giây màu xanh (Tổng khối lượng của 05 khối hộp trên là 6,86kg) và 60 vật có hình dạng giống bóng điện, tất cả có đặc điểm giống nhau, đầu phía trên hình cầu, được bọc quấn ngoài bằng giấy màu nâu, có đường kính 04 cm, thân phía dưới hình trụ tròn dài 03 cm, đường kính 2,6 cm được bọc bằng giấy ni lông màu vàng, có in chữ nước ngoài màu đen, phía dưới đáy dán giấy nền màu có in chữ nước ngoài màu trắng, phía thân dưới có gắn đoạn dây màu xanh (Tổng khối lượng của 60 vật trên là 2,4kg). Tất cả đồ vật tài liệu được niêm phong theo quy định của pháp luật. Nguyễn Việt T khai nhận những đồ vật trên là pháo hoa nổ và pháo nổ của T mua về nhằm mục đích sử dụng. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của Nguyễn Việt T: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius BKS: 98N3-4332; 01 mũ bảo hiểm có cằm kín đầu, màu xanh đen, trên mũ có in chữ và số “ASIA 136” và 01 túi xách da màu nâu, có dây xách, mặt túi có in chữ “LV” (đều đã qua sử dụng). Sau đó, Nguyễn Việt T còn giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình 01 đăng ký xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius BKS: 98N3-4332 (mang tên Nông Văn Tuấn sinh năm 1983 trú tại bản Hố Tre, xã Tam Tiến, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang).

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Việt T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã lấy 05 khối dạng hình hộp chữ nhật (ký hiệu M1) và 60 vật có hình dạng giống bóng điện (ký hiệu M2) thu giữ của Nguyễn Việt T nêu trên để gửi trưng cầu giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 06/KL-KTHS-ChN ngày 18/12/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:

“- 05(năm) khối hình hộp chữ nhật bọc giấy ký hiệu M1 và 60 (sáu mươi) vật hình dạng giống bóng điện sợi đốt (ký hiệu M2) gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (còn được gọi là pháo hoa nổ).

- Khối lượng của 05 (năm) hộp pháo nổ gửi giám định ký hiệu M1 là 6,960kg; 60 (sáu mươi) vật hình dạng giống bóng điện sợi đốt ký hiệu M2 là 2,419kg. Tổng khối lượng số pháo nổ ký hiệu M1 và M2 gửi giám định là 9,379kg (chín phẩy ba trăm bẩy mươi chín kilôgam).

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSNQ-HS ngày 13/02/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Nguyễn Việt T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Việt T từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đoàn kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục.

Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ 05 (năm) hộp pháo nổ ký hiệu M1 còn lại sau giám định, khối lượng còn lại là 6,366kg và 52 (năm mươi hai) quả pháo nổ trong mẫu ký hiệu M2 còn lại sau giám định, khối lượng còn lại là 2,099kg.

+ 01 túi xách da màu nâu, có dây xách, mặt túi có in chữ “LV”.

- Trả lại cho Nguyễn Việt T: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius BKS: 98N3-4332; 01 mũ bảo hiểm có cằm kín đầu, màu xanh đen, trên mũ có in chữ và số “ASIA 136” và 01 đăng ký xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius BKS: 98N3-4332.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Việt T thừa nhận đã thực hiện hành vi như bản cáo đã truy tố, không có ý kiến gì khác và không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa bị cáo nhận tội, bị cáo thừa nhận: do có nhu cầu muốn sử dụng pháo để đốt trong dịp Tết Nguyên đán năm 2023, bị cáo đã đăng nhập mạng xã hội Facebook, thấy có người nam giới không quen biết giao bán pháo nổ trên mạng. bị cáo đã liên hệ qua mạng với người nam giới để đặt mua 05 hộp pháo hoa nổ (loại pháo giàn) và 60 quả pháo nổ (loại pháo trứng) với giá tiền 4.500.000đồng thì người này đồng ý, chỉ địa điểm và hẹn bị cáo lên thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 19 giờ cùng ngày bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius BKS: 98N3-4332 và mang theo 01 túi xách màu nâu treo ở xe để đựng pháo, đi từ nhà đến thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang để mua pháo về sử dụng. Tại thành phố Bắc Giang, bị cáo đã gặp người nam giới như đã hẹn, mua 05 hộp pháo hoa giàn và 60 quả pháo nổ có hình dạng giống bóng điện với tổng giá tiền là 4.500.000 đồng. Đến khoảng 07 giờ ngày 15/12/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô đi về đến địa phận thôn 1, xã P, huyện N rồi đi vào quán ăn mang tên “Hải Dung” để ăn sáng. Sau khi ăn sáng xong, bị cáo lên xe mô tô định nổ máy ra về thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Ninh Bình đang làm nhiệm vụ trên địa bàn xã P, huyện N phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ; bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ ngày 15/12/2022, tại thôn 1, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Việt T đã có hành vi cất giấu trái phép 05 hộp pháo và 60 quả pháo nổ dạng hình bóng điện sợi đốt (còn được gọi là pháo hoa nổ) có tổng khối lượng là 9,379kg nhằm mục đích để sử dụng.

Theo quy định tại Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) ...

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

...

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội: “Tàng trữ hàng cấm” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức rõ hành vi tàng trữ, sử dụng pháo nổ bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình tàng trữ pháo nổ(9,379kg) với mục đích sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán dẫn đến đến phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với một số hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm tàng trữ, sử dụng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo cần phải được xử lý kịp thời, nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật, đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền cũng đủ điều kiện để bị cáo cải tạo thành công dân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Bị cáo mua pháo nhằm mục đích đốt trong dịp tết Nguyên đán, không có vụ lợi về vật chất, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

- Đối với 01 điện thoại Nguyễn Việt T khai sử dụng để đăng nhập Facebook cá nhân để liên hệ mua pháo nổ. Quá trình điều tra T xác định đã làm rơi mất trên đường đi mua pháo về nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius BKS: 98N3-4332; 01 đăng ký xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius BKS: 98N3-4332 và 01 mũ bảo hiểm có cằm kín đầu, màu xanh đen, trên mũ có in chữ và số “ASIA 136” thu giữ của Nguyễn Việt T. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của gia đình Nguyễn Việt T (xe mua lại nhưng chưa sang tên, đổi chủ), việc T sử dụng xe đi mua Pháo nổ, vợ T không biết. Xét thấy, cần trả lại những tài sản trên cho T là có căn cứ.

- 01 túi xách da màu nâu, có dây xách, mặt túi có in chữ “LV” T dùng để đựng Pháo, không còn giá trị kinh tế cần tịch thu, tiêu hủy.

- 05 (năm) hộp pháo nổ ký hiệu M1 còn lại sau giám định, khối lượng còn lại là 6,366kg và 52 (năm mươi hai) quả pháo nổ trong mẫu ký hiệu M2 còn lại sau giám định, khối lượng còn lại là 2,099kg, là vật cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số pháo: Nguyễn Việt T khai mua của một người nam giới tại khu vực thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, T không biết cụ thể tên, tuổi, địa chỉ của người này. Ngoài ra, do điện thoại di động của T dùng để liên lạc mua pháo, T đã làm mất nên T không nhớ tài khoản, mật khẩu đăng nhập Facebook cá nhân của mình. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có cơ sở điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Việt T 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đoàn kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo lại cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ 05 (năm) hộp pháo nổ ký hiệu M1 còn lại sau giám định, khối lượng còn lại là 6,366kg và 52 (năm mươi hai) quả pháo nổ trong mẫu ký hiệu M2 còn lại sau giám định, khối lượng còn lại là 2,099kg.

+ 01 túi xách da màu nâu, có dây xách, mặt túi có in chữ “LV”.

- Trả lại cho Nguyễn Việt T: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius BKS: 98N3-4332; 01 mũ bảo hiểm có cằm kín đầu, màu xanh đen, trên mũ có in chữ và số “ASIA 136” và 01 đăng ký xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius BKS: 98N3-4332.

Tình trạng vật chứng như:

- Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/02/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

- Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Đại đội kho kỹ thuật - Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Bình.

3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc Nguyễn Việt T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ