- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số: 08/2022/TLST-HC ngày 21 tháng 3 năm 2022, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”, giữa:
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 18/2022/QĐST-HC | Đ ng Tháp, ngày 20 tháng 9 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tôn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Phước Đa
Ông Lê Văn Thung
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 123, điểm h khoản 1 Điều 143, Điều 144 và Điều 165 của Luật tố tụng hành chính;
Xét thấy: Tại phiên tòa ngày 08/9/2022 và ngày 20/9/2022, anh Trần Minh V đại diện theo ủy quyền của bà Võ Thị C là người khởi kiện xác định Quyết định số 998/QĐ-UBND ngày 03/11/2020 của UBND huyện T không có nội dung cho bà C khiếu nại, phủ quyết căn cứ để bà C rút đơn khởi kiện theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 54/2017/QĐST-HC ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Bà C yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 998 để trả lại diện tích đất 103,2m2 cho bà C, theo như Quyết định 476 đã hủy các quyết định 46, 552, 239 trước đây, lý do diện tích đất 103,2m2 mà UBND huyện T ban hành quyết định thu hồi và cấp quyền sử dụng đất cho bà R là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà C, do đất này có nguồn gốc là của bà C. Ngoài ra, tại phiên tòa anh Trần Minh V xác định chỉ yêu cầu xem xét tính hợp pháp của Quyết định số 998 và yêu cầu hủy đối với quyết định này, không yêu cầu xem xét về diện tích đất. Việc bà C yêu cầu hủy Quyết định số 998, Hội đồng xét xử xét thấy:
Quyết định số 998/QĐ-UBND ngày 03/11/2020 của UBND huyện T hủy Quyết định số 476/QĐ-UBND ngày 26/9/2017 của UBND huyện T đã khôi phục lại các Quyết định số 46, Quyết định số 552, Quyết định số 239 về việc giải quyết khiếu nại, thu hồi điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều chỉnh diện tích thu hồi theo Quyết định 552. Theo đó Quyết định 998 xác định việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho bà R đối với diện tích 103,2m2 là đúng với phần đất và diện tích mà bà C đang khiếu nại, tranh chấp tại thửa 177.
Trước khi UBND huyện T ban hành Quyết định số 998 để khôi phục các quyết định nêu trên, thì bà C đã khởi kiện bà R tại Tòa án nhân dân huyện T về việc tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất đối với diện tích 103,2m2 thuộc một phần thửa 177 (cũ), nay là thửa 142 (mới) mà UBND huyện T đã cấp QSDĐ cho bà R và yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSDĐ của bà R cũng với diện tích đất là 103,2m2. Tại phiên tòa anh Minh V đại diện cho bà C xác định việc khiếu nại và khởi kiện tranh chấp dân sự của bà C đối với bà R là đúng cùng một diện tích đất 103,2m2, thuộc một phần thửa đất 177 mà UBND huyện T đã cấp quyền sử dụng đất cho bà C trước đây.
Việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà C với bà R đã được Tòa án nhân dân huyện T giải quyết sơ thẩm tại bản án số 08/2020/DS-ST ngày 03/3/2020 và Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp giải quyết phúc thẩm tại bản án số 382/2020/DS-PT ngày 29/12/2020, qua đó Quyết định số 998 đã được Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp nhận định trong bản án phúc thẩm và bản án đã có hiệu lực pháp luật. Hiện nay bà C không đồng ý với bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm của Tòa án nên đã tiếp tục khiếu nại theo thủ tục Giám đốc thẩm nhưng chưa có kết quả giải quyết. Cho nên việc bà C yêu cầu hủy Quyết định số 998 là không phù hợp do việc tranh chấp của bà C đã được giải quyết bằng bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 123 của Luật tố tụng hành chính năm 2015. Tại điểm d khoản 1 Điều 123 quy định:“Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số: 08/2022/TLST-HC ngày 21 tháng 3 năm 2022, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”, giữa:
- Người khởi kiện: Bà Võ Thị C, sinh năm 1941;
Địa chỉ: Số x, tổ x, khóm H, thị trấn H1, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Võ Thị C: Anh Trần Minh V, sinh năm 1999 (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/8/2022);
Địa chỉ: Số x, đường P, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Võ Thị C: Bà Nguyễn Thị Thanh T1 và bà Trương Thị Minh T2 là Luật sư của Công ty luật TNHH Một thành viên TMT thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Minh T3, chức vụ: Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thanh D, chức vụ: Phó Chủ tịch (Theo văn bản ủy quyền ngày 28/3/2022).
Cùng địa chỉ: Số x, Quốc lộ x, khóm M, thị trấn H1, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND huyện T là bà Kim Hồng P1 - Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị R, sinh năm: 1959;
Địa chỉ: Khóm H, thị trấn H1, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:
Trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ k m theo cho đương sự nếu có yêu cầu.
Về án phí hành chính sơ thẩm: Bà Võ Thị C được miễn nộp tiền án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể t ngày nhận được Quyết định này hoặc kể t ngày Quyết định này được niêm yết công khai theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
| Nơi nhận: - TANDCC tại TP.HCM; - VKSND Tỉnh; - Phòng KTNV-THA Tỉnh; - Cục THADS Tỉnh; - Đương sự; - Lưu: HSVA, VT, VP, THC(T). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thành Tôn |