- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Mạnh C"
- Tòa quyết gì? [1] Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị S. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 98/2021/QĐST - DS ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 18/2022/QĐ-PT | Phú Thọ, ngày 20 tháng 01 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Việt Tiến.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang; Ông Nguyễn Kim Ái.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 98/2021/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2021, Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã căn cứ vào các điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 85/2021/TLST-DS ngày 01/6/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1963 và ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1963
Địa chỉ: Đội 12, xã Tr, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Chỉ: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959
Địa chỉ: Đội 12, xã Tr, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Khu 3, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Nơi công tác: Công ty cổ phần xây dựng thương mại và dịch vụ P.
2. Công ty cổ phần xây dựng thương mại và dịch vụ P.
Địa chỉ: Phố Đ, phường T, TP. V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C và Công ty P: Công ty Luật TNHH Tco, địa chỉ: Tầng 7, số 31, phố V, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Đại diện: Ông Nguyễn Công H – Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền lại: Bà Lương Thị T, sinh năm 1998 và ông Đinh Hà Q, sinh năm 1999; Địa chỉ: Tầng 7, số 31, phố V, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
3. Văn Phòng Công chứng P.
Địa chỉ: Số 71, đường M, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị C – Trưởng văn phòng.
Tại đơn kháng cáo ngày 12/10/2021 và đơn kháng cáo sửa đổi, bổ sung ngày 25/10/2021, bà S không đồng ý với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với lý do bà không nộp tiền xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Bà cho rằng bà không tranh chấp đất với ai, diện tích đất đã có trong GCNQSDĐ đến nay không thay đổi nên không yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Yêu cầu Tòa án xem xét lại các buổi hòa giải không được thực hiện đầy đủ về thủ tục và thời gian; yêu cầu Tòa án xem xét lại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái pháp luật, có sự lừa dối, khi công chứng hợp đồng không có mặt bà nên hợp đồng vô hiệu.
XÉT THẤY:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị S trong hạn luật định, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Ngày 23/3/2017, bà Nguyễn Thị S - sinh năm 1963 và ông Nguyễn Văn Ch - sinh năm 1963, đều có địa chỉ tại : Đội 12, xã Tr, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã ký hợp đồng mua bán đất nông nghiệp, theo đó chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc K - sinh năm 1970, địa chỉ: Khu 13, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ 558m2 đất nông nghiệp (thuộc 02 thửa đất: thửa đất số 214 và thửa đất số 152-1, tờ bản đồ số 24) tại xã Tr, thành phố V với giá 111.600.000đ. Hợp đồng được UBND xã Tr chứng thực.
Tại đơn khởi kiện, bà Nguyễn Thị S yêu cầu ông Nguyễn Mạnh C đại diện Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại P và ông Nguyễn Ngọc K phải hỗ trợ cho bà số tiền là 360 triệu đồng/sào đất nông nghiệp thay vì số tiền như hợp đồng mua bán đất nông nghiệp đã ký; nếu không thì yêu cầu hủy hợp đồng vì cho rằng hợp đồng chuyển nhượng đất sai trái, có sự lừa dối. Năm 2016, ông Ch1 trưởng khu mời bà lên nhà văn hóa khu để thông báo thu hồi đất ruộng với giá 72 triệu đồng/sào, nhưng một số hộ lấy sau ông C lại tự tăng giá lên từ 72 triệu, 82 triệu, 90 triệu, 130 triệu, 180 triệu, 280 triệu đến 360 triệu đồng/sào. Khi lấy hợp đồng về thì không phải ông C đại diện bên thu hồi đất mà lại là ông Nguyễn Ngọc K ký hợp đồng, bà không biết và không làm việc với ông K này.
Ngày 20/01/2021, Tòa án nhân dân thành phố V thụ lý vụ án. Ngày 06/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố V ra Thông báo số 34/TB-TA cho bà Nguyễn Thị N (đại diện theo ủy quyền) nộp 10.000.000đ (Mười triệu đồng) tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ngày 27/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố V lập biên bản làm việc giải thích cho bà N về việc phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Tuy nhiên văn bản thể hiện quan điểm của bà N là không yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, không nộp tạm ứng chi phí tố tụng. Ngày 30/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố V ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án vì lý do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Điều 127 của Bộ luật dân sự quy định, khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như công tác thi hành án, khi giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì cần phải xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản để xác định giá trị quyền sử dụng đất, làm căn cứ giải quyết việc bồi thường khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất do các bên thỏa thuận với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử theo hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 2.3 mục 2 phần II Nghị quyết số: 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[2.3] Quá trình giải quyết vụ án, xét thấy cần thiết nên Tòa án nhân dân thành phố V đã quyết định tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản mà không cần theo yêu cầu của đương sự là đúng quy định tại khoản 2 Điều 97, Điều 101, Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong trường hợp này bà Nguyễn Thị S là nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là đúng quy định tại Điều 156, Điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bà S không nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố V đã quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là đúng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì vậy, kháng cáo của bà Nguyễn Thị S không có cơ sở chấp nhận.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hô ̣i đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị S. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 98/2021/QĐST - DS ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố V. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên bà S phải chịu án phí phúc thẩm.
Căn cứ điểm a khoản 5, 6 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị S. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 98/2021/QĐST - DS ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
[2] Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2020/0006803 ngày 08 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
[3] Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - TAND TP. V; - Chi cục THADS TP. V; - Lưu: AV, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Nguyễn Việt Tiến |