vanban.org

Quyết định 18/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ Tuyên án 08/10/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lê Thị B. Tuyên bố ông Trần Văn M có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi (B-M)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 18/2021/QĐST-VDSBình Thủy, ngày 08 tháng 10 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

(V/v Tuyên bố có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi)

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thúy Nguyên

Thư ký phiên họp: Bà Thạch Thị Thi – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy tham gia phiên họp: Ông Trần Tấn Bửu– Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 14/2021/TLST-VDS ngày 15 tháng 6 năm 2021 về “Yêu cầu tuyên bố khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp số: 427/2021/QĐ.MPH.VDS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị B – Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn M – Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Số Q tổ QQ khu vực QQQ, phường QQQQ, quận QQQQQ, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu đề ngày 10/5/2021 và quá trình giải quyết bà Lê Thị B trình bày: Ông Trần Văn M là chồng của bà B, ông M bị bệnh tâm thần phân liệt từ năm 2003 đến nay. Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần vào ngày 07/5/2021. Về năng lực ông M khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Mọi sinh hoạt cá nhân do bà B (vợ ông M) làm thay.

Để có cơ sở và thuận tiện trong việc thực hiện các thủ tục hành chính nên nay bà B yêu cầu tuyên bố ông M khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo qui định của pháp luật.

Tại phiên họp bà B vẫn giữ nguyên yêu cầu về việc tuyên bố ông M có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Bình Thủy nhận định:

Về thủ tục: Bà B cho rằng chồng bà là ông Trần Văn M bị bệnh thần kinh phân liệt từ năm 2003 đến nay và không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, mọi sự sinh hoạt cá nhân của ông M đều do bà B làm thay. Để có cơ sở và thuận tiện trong việc thực hiện các thủ tục hành chính nên nay bà B yêu cầu tuyên bố ông M khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo qui định của pháp luật. Xét thấy yêu cầu này của bà B phù hợp với khoản 1 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về yêu cầu của đương sự: Ông Trần Văn M là chồng của bà B, ông M bị bệnh tâm thần phân liệt từ năm 2003 đến nay. Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần vào ngày 07/5/2021. Về năng lực ông M khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Mọi sinh hoạt cá nhân do bà B (vợ ông M) làm thay, là sự thật.

Do đó xét thấy có đủ cơ sở tuyên bố ông M khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:

Về thủ tục tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên họp ngày hôm nay là hoàn toàn tuân theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Tại phiên họp, người yêu cầu giữ nguyên toàn bộ yêu cầu. Từ những căn cứ có trong hồ sơ vụ việc và lời khai của người yêu cầu, cũng như biên bản làm việc có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào Điều 27, Điều 376, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 23, Điều 49, Điều 57, Điều 58 Bộ luật dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố ông Trần Văn M có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định bà Lê Thị B là người giám hộ cho ông M. Bà B có quyền và nghĩa vụ giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

Từ những viện dẫn trên, yêu cầu của bà B và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: khoản 1 Điều 27, Điều 35, Điều 376, 377, 378 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 23, Điều 23, Điều 49, Điều 53, Điều 54, Điều 57, Điều 58 và Điều 59 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Nghị quyết 326/2016-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lê Thị B.

Tuyên bố ông Trần Văn M có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật.

2. Chỉ định bà Lê Thị B (vợ ông M) là người giám hộ cho ông Trần Văn M.

Bà Lê Thị B có nghĩa vụ: chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho ông Trần Văn M; đại diện cho ông M trong các giao dịch dân sự; quản lý tài sản và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn M.

Bà Lê Thị B có quyền: sử dụng tài sản của ông Trần Văn M để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của ông M; được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của ông M; đại diện cho ông M trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông M.

3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà B thuộc trường hợp là người lớn tuổi (trên 60 tuổi) và có đơn xin được miễn tiền lệ phí theo quy định pháp luật, nên bà B không phải chịu tiền lệ phí việc dân sự.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ