- Tranh chấp gì? "án hành chính"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 3 Luật tố tụng hành chính; Điều 123 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 18/2021/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 01 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phan Đức Phương.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tửu.
Bà Huỳnh Thanh Duyên.
- Thư ký phiên họp: Ông Bùi Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Bùi Minh Nghĩa - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 29/2020/QĐST-HC ngày 16/9/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, điểm đ khoản 1 Điều 123, điểm h khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khiếu kiện quyết định hành chính”, giữa:
1. Người khởi kiện: Ông Trần Văn T, sinh năm: 1969.
Địa chỉ: Số 33 đường N, khu phố 1, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1968.
Địa chỉ: Khu phố 1, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận;
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố P.
Địa chỉ: 479 đường T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1971.
3.2. Ông Trần Vũ T, sinh năm: 1995.
3.3. Bà Trần Thị Anh T, sinh năm: 1997.
3.4. Ông Trần Minh T, sinh năm: 2001.
Cùng địa chỉ: Số 33 đường N, khu phố 1, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại đơn kháng cáo ngày 01/10/2020 của người khởi kiện ông Trần Văn T, với lý do: Việc đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là không đúng pháp luật, đề nghị hủy quyết định sơ thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị số 72/QĐKNPT-VKS-HC ngày 05/10/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đề nghị hủy quyết định sơ thẩm.
XÉT THẤY:
Ông Trần Văn T khởi kiện công văn số 4582/UBND-ĐBGP ngày 07/7/2020 của UBND thành phố P và buộc UBND thành phố P phê duyệt kinh phí hỗ trợ đối với diện tích đất bị thu hồi theo quy định pháp luật.
Công văn số 4582/UBND-ĐBGP ngày 07/7/2020 của UBND thành phố P, có nội dung: Đề nghị Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Bình Thuận rà soát, kiểm tra nội dung đơn khiếu nại của ông T và có văn bản trả lời cho ông T trước ngày 21/7/2020, đồng thời gửi kết quả về UBND thành phố P biết theo dõi. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Công văn số 4582/UBND-ĐBGP không phải là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là có căn cứ.
Đối với việc yêu cầu UBND thành phố P phê duyệt kinh phí hỗ trợ đối với diện tích đất bị thu hồi: Ngày 23/10/2006, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 10394/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của ông Trần Văn T, có nội dung: Thu hồi 19.603,00m2 của hộ gia đình ông T. Tại Điều 2 của Quyết định, có nội dung: Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp với UBND phường H thông báo cho hộ ông T và kiểm tra đôn đốc việc thực hiện quyết định. Quỹ Đầu tư và Hạ tầng phát triển quỹ đất Bình Thuận phối hợp với UBND phường H tổ chức kiểm kê, bồi thường thiệt hại về đất đai, hoa màu, giải phóng mặt bằng theo quy định hiện hành. Theo quy định tại khoản 2 Điều 44 Luật Đất đai năm 2003 thì UBND thành phố P ban hành quyết định thu hồi đất của hộ ông T là đúng pháp luật.
Như vậy, theo quy định tại Điều 42 Luật Đất đai năm 2003 thì UBND thành phố P có trách nhiệm tiến hành các thủ tục để bồi thường cho ông T đối với diện tích đất đã thu hồi. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng việc UBND thành phố P không tiến hành thủ tục phê duyệt hỗ trợ kinh phí đền bù không phải là hành vi hành chính là không đúng quy định nêu trên. Căn cứ khoản 3, 4 Điều 3 Luật tố tụng hành chính thì trường hợp này là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Vì vậy, kháng cáo của ông T và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận có căn cứ. Ông T không phải chịu án phí phúc thẩm.
Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T.
2. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.
3. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 29/2020/QĐST-HC ngày 16/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.
4. Án phí phúc thẩm: Ông Trần Văn T không phải chịu và được trả lại 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008970 ngày 21 tháng 10 năm 2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
TM. HỘI ĐỒNG PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Cục THADS tỉnh Bình Thuận; - Các đương sự; - Lưu: VP (3), HS (2) (BĐA) | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phan Đức Phương |