vanban.org

Quyết định 18/2020/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Dương Thị Thùy Tr và ông Phạm Trung T.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Thùy Tr và ông Phạm Trung T thuận tình ly hôn. Quan hệ hôn nhân giữa bà Dương Thị Thùy Tr và ông Phạm Trung T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 08 thá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Dương Thị Thùy Tr và ông Phạm Trung T.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 18/2020/QĐST-HNGĐTrần Đề, ngày 31 tháng 01 năm 2020.

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 01/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2020, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Dƣơng Thị Thùy Tr; Sinh năm 1993; Địa chỉ: Đường 27/7, ấp C, thị Trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Phạm Trung T; Sinh năm 1989; Địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 55, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 21 tháng 01 năm 2020.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 21 tháng 01 năm 2020 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Dương Thị Thùy Tr và ông Phạm Trung T.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Thùy Tr và ông Phạm Trung T thuận tình ly hôn. Quan hệ hôn nhân giữa bà Dương Thị Thùy Tr và ông Phạm Trung T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 08 tháng 06 năm 2017 chấm dứt kể từ ngày ban hành quyết định này.

- Về con chung: Bà Dương Thị Thùy Tr và ông Phạm Trung T thống nhất xác định có một người con chung tên Phạm Gia H, sinh ngày 02/11/2017.

Bà Dương Thị Thùy Tr và ông Phạm Trung T thỏa thuận thống nhất giao con chung tên Phạm Gia H, sinh ngày 02/11/2017 cho bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, ông Phạm Trung T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Phạm Trung T có quyền, ngh a vụ thăm nom con chung là Phạm Gia H, sinh ngày 02/11/2017 mà không ai được cản trở. Ông Phạm Trung T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H của bà Tr.

- Về tài sản chung: Bà Dương Thị Thùy Tr và ông Phạm Trung T thống nhất xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Dương Thị Thùy Tr và ông Phạm Trung T thống nhất xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị Thùy Tr và ông Phạm Trung T thỏa thuận thống nhất bà Dương Thị Thùy Tr đồng ý chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001978 ngày 03 tháng 01 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng, hoàn trả cho bà Dương Thị Thùy Tr số tiền chênh lệch 150.000 đồng. Ông Phạm Trung T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ