- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Y/c tuyên bố một người đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trương Thị Ngọc A về việc “Tuyên bố một người đã chết”.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 71 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 18/2019/QĐST-DS | Thanh Khê, ngày 15 tháng 01 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyên bố một người đã chết
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đặng Ngọc Cường
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên họp: Ông Lê Thanh Tráng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 178/2018/TLST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2018 về việc “Tuyên bố một người đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 178/2018/QĐST-DS ngày 24 tháng 12 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trương Thị Ngọc A, sinh năm 1995; địa chỉ: Số K296/19 đường T, tổ 52, phường K, quận K, thành phố Đà Nẵng (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trịnh Thị Bích L, sinh năm 1965; địa chỉ: Số K296/19 đường T, tổ 52, phường K, quận K, thành phố Đà Nẵng (có mặt).
+ Bà Trương Thị Tuyết T, sinh năm 1990; địa chỉ: Số K296/19 đường T, tổ 52, phường K, quận K, thành phố Đà Nẵng (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Bà Trương Thị Ngọc A yêu cầu Tòa án giải quyết nội dung sau:
Ông Trương M, sinh năm 1968 và bà Trịnh Thị Bích L, sinh năm 1965 là vợ chồng. Quá trình chung sống, ông bà sinh được 02 người con là Trương Thị Tuyết T, sinh năm 1990 và Trương Thị Ngọc A, sinh năm 1995. Đến ngày 26/5/2005 ông M và bà L đã ly hôn theo Quyết định số 88/2005/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Sau khi ly hôn, ông Trương M đã bỏ nhà đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì còn sống hay đã chết, mặc dù gia đình đã nhiều lần đi tìm nhưng vẫn không có tin tức gì.
Đến ngày 10/7/2015, ông Trương M bị tuyên bố mất tích theo Quyết định số 10/2015/QĐDS-ST của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê theo yêu cầu của bà Trương Thị Ngọc A là con gái của ông M. Nay đã được 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên bố ông M mất tích nhưng gia đình bà A vẫn chưa có tin tức gì của ông M là còn sống hay đã chết. Ngày 11/7/2018, bà Trương Thị Ngọc A tiếp tục làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận Thanh khê tuyên bố ông Trương M là đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nhận định:
Tại phiên họp, người yêu cầu bà Trương Thị Ngọc A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Tuyết T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án căn cứ theo khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành phiên họp vắng mặt bà A và bà T.
Về nội dung vụ việc: Ông Trương M, sinh năm 1968 và bà Trịnh Thị Bích L, sinh năm 1965 là vợ chồng. Quá trình chung sống, ông bà sinh được 02 người con là Trương Thị Tuyết T và Trương Thị Ngọc A. Ngày 26/5/2005 ông Trương M và bà Trịnh Thị Bích L đã ly hôn theo Quyết định số 88/2005/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê. Sau khi ly hôn, ông Trương M đã bỏ nhà đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì còn sống hay đã chết. Ngày 10/7/2015, ông Trương M được Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tuyên bố mất tích theo Quyết định số 10/2015/QĐDS-ST. Đến ngày 11/7/2018, bà Trương Thị Ngọc A tiếp tục có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trương M đã chết.
Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã làm các thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể là đăng trên báo Nhân dân, phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam để tìm kiếm ông Trương M và đã thông báo trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhưng đến nay, đã hơn 4 tháng kể từ ngày đăng phát đầu tiên (18.8.2018) vẫn không có tin tức gì của ông M.
Xét yêu cầu của bà Trương Thị Ngọc A về việc đề nghị Tòa án tuyên bố ông Trương M đã chết là có căn cứ theo quy định tại Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015 nên cần thiết được chấp nhận.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu quan điểm và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Ngọc A về việc tuyên bố ông Trương M là đã chết. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần thiết chấp nhận.
Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: 300.000đ bà Trương Thị Ngọc A phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ bà A đã nộp theo biên lai thu số: 0004029 ngày 02/8/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Chi phí cho việc thông báo cho các phương tiện thông tin đại chúng bà A phải chịu (bà A đã nộp và chi phí xong).
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 71 Bộ luật dân sự; khoản 4 Điều 27; Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trương Thị Ngọc A về việc “Tuyên bố một người đã chết”.
Tuyên bố: Ông Trương M, sinh năm 1968; Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 55 (cũ) phường K, quận K, thành phố Đà Nẵng là người đã chết.
Thời điểm xác định chết kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000đ bà Trương Thị Ngọc A phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ bà A đã nộp theo biên lai thu số 4029 ngày 02.8.2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Trịnh Thị Bích L có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra Quyết định. Đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định. Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Q. Thanh Khê; - THADS Q. Thanh Khê; - Các đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN Đặng Ngọc Cường |