vanban.org

Quyết định 18/2019/QĐST-DS — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 03/10/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L - Sinh năm 1962. Địa chỉ: Thôn 3, xã Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Bị đơn: Anh Trần Minh T - Sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn 3, xã Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. 2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 24/11/2018, anh Trần Minh T có g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Nguyễn Thị L - Trần Minh T"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HOÁ
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 18/2019/QĐST-DSTP Thanh Hoá, ngày 03 tháng 10 năm 2019.

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào biên bản hoà giải thành ngày 25/9/2019 về việc các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án dân sự thụ lý số: 88/2019/TLST - DS ngày 04 tháng 7 năm 2019. ư

XÉT THẤY:

Các thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hòa giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện; nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L - Sinh năm 1962. Địa chỉ: Thôn 3, xã Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Trần Minh T - Sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn 3, xã Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. 2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 24/11/2018, anh Trần Minh T có gây thương tích cho bà Nguyễn Thị L, hậu quả bà L phải đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa Hợp Lực từ ngày 24/11/2018 đến ngày 01/12/2018. Nay bà L khởi kiện yêu cầu anh T bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với tổng số tiền là: 26.796.588đ, gồm các khoản sau:

- Tiền viện phí: 12.552.855đ;

- Thu nhập thực tế bị mất trong 08 ngày: 8 x 200.000đ/ngày = 1.600.000đ;

- Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong 08 ngày: 8 x 955.466,666đ = 7.643.733đ;

- Bồi thường sức khỏe sau điều trị, bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần: 5.000.000đ. Quá trình giải quyết vụ án, bà L rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 11.796.588đ. Bà chỉ yêu cầu anh T bồi thường cho bà 15.000.000đ. Hai bên thống nhất số tiền anh T bồi thường thiệt hại do sức khỏe của bà L bị anh xâm phạm là: 15.000.000đ. Anh T sẽ bồi thường cho bà L số tiền này làm ba lần:

- Lần 1: Ngày 15/11/2019, bồi thường 5.000.000đ;

- Lần 2: Ngày 15/12/2019, bồi thường 5.000.000đ;

- Lần 3: Ngày 15/01/2020, bồi thường 5.000.000đ. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành án thì hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

- Về án phí: Anh Trần Minh T chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 375.000 đồng. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. 4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ