vanban.org

Quyết định 175 — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, Điều 149, Điều 370, Điều 372, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng

dân sự năm 2015; ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? 39, Điều 149, Điều 370, Điều 372, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 175/2019/QĐST-DS Thủ Dầu Một, ngày 24 tháng 4 năm 2019

Số: 175/2019/QĐST-DS Thủ Dầu Một, ngày 24 tháng 4 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Văn Thị Ngọc Hương. Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Nga – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên. Ngày 24 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 83/2019/TLST-VDS ngày 06 tháng 03 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 83/2019/QĐST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2019, giữa: - Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; địa chỉ: đường M, Khu phố N, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1974; địa chỉ: đường M, Khu phố N, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; 2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1951; địa chỉ: xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; 3. Cháu Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 05/7/2001; 4. Cháu Nguyễn Thị Kiều D, sinh ngày 13/12/2005; Cùng ngụ tại địa chỉ: đường M, Khu phố N, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Người đại diện hợp pháp cho cháu Nguyễn Quốc Đ và cháu Nguyễn Thị Kiều D: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; địa chỉ: đường M, Khu phố N, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu đề ngày 20/02/2019 và tại phiên họp, bà Nguyễn Thị H là người yêu cầu trình bày: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1974; địa chỉ: đường M, Khu phố N, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là chồng của bà Nguyễn Thị H. Ông Nguyễn Văn S bị bệnh tai biến mạch máu não, máu tụ trong não nên không nói được, bị liệt nửa thân bên trái, không đi được từ hơn nữa năm nay, gia đình đã đưa đi điều trị ở các bệnh viện và hiện nay đang điều trị tại Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào kết luận của bác sỹ trong các giấy ra viện tại bệnh viện phục hồi chức năng Thành phố Hồ Chí Minh- Khoa thần kinh, sọ não thì ông Nguyễn Văn S bị máu tụ trong bán cầu não trái, nhiễm trùng loét cùng cụt, di chứng mạch máu não dẫn đến không nói được, liệt nữa thân bên phải và không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn S bị mất năng lực hành vi dân sự, để bà thuận lợi trong các giao dịch dân sự sau này. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T trình bày: Thống nhất với yêu cầu của bà Nguyễn Thị H và có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên họp: Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã thực hiện việc thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình giải quyết và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại các Điều 369, 377 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 172/KL- VPYTW ngày 02/4/2019 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa, kết luận ông S bị bệnh mất trí trong bệnh mạch máu (F01– ICD.10), về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Căn cứ Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015, thì yêu cầu của bà Nguyễn Thị H là có căn cứ, vì vậy đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc tuyên bố ông Nguyễn Văn S mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một nhận định: [1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị H yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn S mất năng lực hành vi dân sự, đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông Nguyễn Văn S có nơi cư trú tại: đường M, Khu phố N, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành

phố Thủ Dầu Một theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [2] Qua xem xét tài liệu, chứng cứ do bà Nguyễn Thị H cung cấp thể hiện ông Nguyễn Văn S bị mất trí trong bệnh mạch máu, mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, bà Nguyễn Thị H vẫn giữ yêu cầu Tòa án tuyên bố ông S mất năng lực hành vi dân sự. [3] Quá trình giải quyết, bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu giám định sức khỏe tâm thần của ông Nguyễn Văn S. Trên cơ sở đơn yêu cầu của bà H, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định trưng cầu giám định số 83/2019/QĐ-TCGĐ ngày 14/3/2019 trưng cầu Viện pháp y Tâm thần Trung ương Biên Hòa thực hiện việc giám định về sức khỏe của ông Nguyễn Văn S. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 172/KL-VPYTW ngày 02/4/2019 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa, kết luận ông S bị bệnh mất trí trong bệnh mạch máu (F01– ICD.10), về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Vì vậy, việc bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn S mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Tòa án chấp nhận. [4] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp về tố tụng và quan điểm giải quyết việc dân sự là có cơ sở. [5] Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải nộp theo quy định tại Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 372, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H Tuyên bố ông Nguyễn Văn s, sinh năm 1974; địa chỉ: đường M, Khu phố N, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0033518 ngày 27/02/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc từ ngày quyết định được niêm yết theo luật định.

Cỡ chữ