- Tranh chấp gì? "Lê Ngọc N1"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 Sửa đổi, bổ sung một số điều c…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 170/2025/QĐ-TA | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 12 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Trần Hải N.
2. Thư ký phiên họp: Bà Phạm Việt Hà.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân khu
vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần: Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 175/2025/QĐ-TA ngày 01 tháng 12 năm 2025, đối với:
Lê Ngọc N1, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2004, tại tỉnh An Giang; Giới tính:
Nam; Số định danh cá nhân: 089204000745; Nghề nghiệp: Không; Nơi đăng ký thường trú: Số G, ấp M, xã M, tỉnh An Giang; Nơi ở hiện tại: Không có nơi cư trú nhất định; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông Lê Tấn P (đã chết) và bà Vũ Thị T (đã chết). Tiền án, tiền sự không.
Lê Ngọc N1 có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lưu Văn Vũ L – Cán bộ Công an phường
T, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 327/CAP ngày 03/12/2025 của Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
2. Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Ông Mai Chiến Thắng - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 22/9/2025, Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Lê
Ngọc N1 có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 23/9/2025, Công an phường T đã đề nghị Trung tâm y tế K – Sở Y tế Thành phố H tiến hành xét nghiệm xác định tình trạng nghiện đối ma túy đối với Lê Ngọc N1. Ngày 23/9/2025, Trung tâm y tế K – Sở Y tế Thành phố H kết luận Lê Ngọc N1 nghiện ma túy loại Methamphetamine. Tại bản tường trình, biên bản ghi lời khai Lê Ngọc N1 thừa nhận có sử dụng ma túy lần đầu từ tháng 7/2025 đến nay, lần gần nhất sử dụng ma túy vào ngày 05/9/2025.
Ngày 23/9/2025, Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh ra
Quyết định số 67/QĐ-CAP về việc quản lý người nghiện ma tuý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trên cơ sở đó, ngày 23/9/2025, Công an phường T tiến hành lập biên bản về việc giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh quản lý người nghiện ma tuý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc N1.
- Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Đề nghị đưa Lê Ngọc N1 vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc để giúp Lê Ngọc N1 trở thành người có ích cho xã hội và góp phần đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương. Thời gian áp dụng cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc N1 là từ 14 tháng đến 16 tháng. Cơ sở cai nghiện bắt buộc áp dụng đối với Lê Ngọc N1 là Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: Ấp G, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ
Chí Minh: Trong quá trình thụ lý hồ sơ, chuẩn bị mở phiên họp và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, Cơ quan đề nghị đã thực hiện theo đúng quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Căn cứ các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ, lời khai của Lê Ngọc N1 về việc sử dụng ma túy. Đề nghị Toà án chấp nhận quan điểm đưa Lê Ngọc N1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Ý kiến của người bị đề nghị: Thống nhất về việc đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc, đề nghị Tòa án áp dụng thời gian cai nghiện bắt buộc thấp nhất.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng
biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát và ý kiến của người bị đề nghị.
XÉT THẤY:
- Về thẩm quyền xem xét, quyết định: Hồ sơ đề nghị của Trưởng Công an
phường T lập đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc N1. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; điểm a khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 của Bộ C - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý xem xét là đúng thẩm quyền.
- Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính đối với Lê
Ngọc N1 lập ngày 23/9/2025 do Lê Ngọc N1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, ngày 28/11/2025, Tòa thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Về nơi cư trú: Theo hồ sơ cũng như lời trình bày tại phiên họp của Lê Ngọc
N1, thể hiện Lê Ngọc N1 có đăng ký thường trú tại: Số G, ấp M, xã M, tỉnh An Giang nhưng không sinh sống; Tại phường T, Thành phố Hồ Chí Minh xác định Lê Ngọc N1 không có nơi cư trú ổn định.
- Về nội dung xem xét: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và lời khai
của Lê Ngọc N1 thể hiện N1 là người nghiện ma túy từ tháng 7/2025 đến nay, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine nhưng không có nơi cư trú ổn định và từ chối đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện. Như vậy, Lê Ngọc N1 là đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định quy định tại điểm b khoản 1 Điều 27 và khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy và khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Bản thân Lê Ngọc N1 là người đã thành niên biết tác hại của ma túy nhưng
vẫn sử dụng. Việc làm này là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, nhất là trong tình hình hiện nay hành vi mua bán chất ma túy, tệ nạn nghiện ma túy xảy ra nhiều có diễn biến phức tạp. Do vậy, việc Trưởng Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét đưa Lê Ngọc N1 đi cai nghiện bắt buộc là cần thiết, đúng pháp luật. Tuy nhiên cũng xem xét Lê Ngọc N1 có những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân như sau:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình làm việc Lê Ngọc N1 đã tự nguyện khai báo,
thành thật hối lỗi, tình tiết trên được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Từ những phân tích trên xét thấy việc đưa Lê Ngọc N1 vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc là cần thiết.
Đối với ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố
Hồ Chí Minh và Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc đưa Lê Ngọc N1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
đối với Lê Ngọc N1.
Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc N1 là Cơ sở cai nghiện ma túy
số D, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: ấp G, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (mười bốn) tháng,
kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kiến nghị; Viện
Kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị; người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định trong hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh
và Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 16 – TP. Hồ Chí Minh; - Trưởng Công an phường Thuận Giao; - UBND phường Thuận Giao; - Cơ sở CNMT số 4, TP. Hồ Chí Minh; - Người bị áp dụng; - Lưu: Hồ sơ, VT. | THẨM PHÁN Trần Hải Nam |