vanban.org

Quyết định 17/QĐ-TA

TAND TX. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 20/09/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn H.

Thời gian chấp hành tại Trung tâm cai nghiện bắt buộc là 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 07 tháng 9 năm 2022. Lưu Văn H có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định;… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lưu Văn H - Đưa vào cơ sở cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn H.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 17/QĐ – TAPhúc Yên, ngày 20 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trang Nhung.

2. Thư ký phiên họp: Ông Lưu Bình Phương.

Ngày 20 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 17/QĐ - TA ngày 15 tháng 9 năm 2022 đối với:

Họ và tên: Lưu Văn H.

Giới tính: Nam

Sinh ngày: 04/10/1989.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá: 9/12

Hộ khẩu thường trú: phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Con ông: Lưu Văn H và bà Lê Thị N.

Đối tượng Lưu Văn H có mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Đăng Cư – Phó phòng Lao động Thương bình và Xã hội thành phố Phúc Yên.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên họp: Ông Lương Duy Long - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Lưu Văn H bị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên đề nghị Tòa án xem xét ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với lý do sau:

Lưu Văn H là đối tượng nghiện ma túy Heroin từ năm 2015, đến nay chưa từ bỏ được. Không chịu rèn luyện lao động hợp pháp trở thành công dân có ích cho xã hội mà luôn đi lang thang nhiều nơi và vẫn thường xuyên sử dụng ma túy.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022 tại biên bản vi phạm số: 02/BB-VPHC, Lưu Văn H thuộc diện lang thang, không có nơi cư trú ổn định đã bị Công an phường Đồng Xuân, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc bắt quả tang đang sử dụng trái phép chất ma túy Heroin. Tại bản tường trình ngày 07/9/2022 Lưu Văn H đã thừa nhận vào chiều ngày 07/9/2022 H đi đến khu vực Đội Đá, tổ 5, phường Đồng Xuân, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để sử dụng ma túy. Khi H đang sử dụng ma túy bằng hình thức chích vào cơ thể thì bị cơ quan công an đến kiểm tra và đưa H về trụ sở làm việc. Bản thân H cũng thừa nhận cho đến nay chưa từ bỏ được ma túy. Hiện tại bỏ nhà đi lang thang, không có bất cứ nơi cư trú nào ổn định.

Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 08 tháng 9 năm 2022 của Trạm y tế phường Đồng Xuân đã cho kết quả Lưu Văn H có nghiện ma túy, tên ma túy sử dụng là ma túy Heroin.

Theo Lý lịch cá nhân ngày 07/9/2022 của Công an phường Đồng Xuân, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thể hiện: Lưu Văn H, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1989; Hộ khẩu thường trú: phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, có bố là ông Lưu Văn H và mẹ là bà Lê Thị N.

Tại Biên bản xác minh tại Công an phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên xác định: H là đối tượng nghiện ma tuý nhiều năm nay chưa cai nghiện được, không có việc làm ổn định, thường xuyên đi lang thang vắng mặt tại địa phương. Bản thân H chưa có tiền án, tiền sự.

Tại Biên bản làm việc ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Công an phường C, thành phố S đối với bà Lê Thị N là mẹ đẻ của đối tượng H, bà N cho biết: Bản thân H là người nghiện ma túy từ năm 2015 đến nay, H thường xuyên vắng mặt tại địa phương, gia đình không biết H đi đâu, làm gì.

Với hành vi vi phạm nêu trên của Lưu Văn H:

Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên có công văn đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn H.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị vẫn giữ nguyên ý kiến và đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn H tại Cơ sở cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên có ý kiến tại phiên họp khẳng định việc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H đã tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục và đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Viện kiểm sát đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H với thời hạn từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tại Cơ sở cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc.

Tại phiên họp Lưu Văn H đồng ý đối với yêu cầu của Phòng Lao động thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên về việc đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện đối với H. H trình bày, bản thân mình hiện nay đang bị bệnh gan, thường xuyên phải điều trị nên H đề nghị Hội đồng xét phiên họp giảm thời hạn áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện cho H với mức thấp nhất của để H sớm được về với gia đình.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, của Kiểm sát viên thấy rằng:

Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6; Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi bổ sung tại khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 56 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số: 116/2021/NĐ- CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 nghị định quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Đối với Lưu Văn H là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2015, nhưng không có bản lĩnh cai nghiện để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, mà lại tiếp tục sử dụng ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021.

Với hành vi vi phạm nêu trên cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn H như đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố Phúc Yên là cần thiết, có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quá trình lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, H luôn tự nguyện khai báo, thành khẩn hối lỗi về hành vi vi phạm của mình nên H được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, cần xem xét thời hạn đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với H từ 14 (Mười bốn) tháng đến 16 (Mười sáu) tháng là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn H.

2. Thời gian chấp hành tại Trung tâm cai nghiện bắt buộc là 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 07 tháng 9 năm 2022.

3. Lưu Văn H có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực, kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Phúc Yên phối hợp với Công an thành phố Phúc Yên có trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Cỡ chữ