- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tạ Thị N"
- Tòa quyết gì? VKSND Khu vực 3 - Đà Nẵng;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:17/2026/QĐST-DS | Đà Nẵng, ngày 30 tháng 7 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG
Thành phần phiên họp giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bình. Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Kiều Hạnh - Thư ký Tòa án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Đà Nẵng tham gia phiên họp: Ông Lê Thế Vũ - Kiểm sát viên. Ngày 30 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đà Nẵng, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 506/2026/TLST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2026 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 1008/2026/QĐST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Tạ Thị N, sinh năm 1942; Nơi cư trú: Tổ D, phường A, TP .. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Bà Đỗ Thị Như H, sinh năm 1965 Địa chỉ: Tổ E, P, phường A, TP .. (Có mặt). 2. Bà Đỗ Thị N1, sinh năm 1971 Địa chỉ: Số A N, phường A, TP .. (Có mặt) 3. Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1974 Địa chỉ: Tổ D, phường A,TP.Đà Nẵng. (Có mặt) 4. Ông Đỗ Việt A, sinh năm 1963 Địa chỉ: Tổ D, phường A, TP .. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
*Trong quá trình giải quyết và tại phiên họp, người yêu cầu bà Tạ Thị N trình bày: Con trai bà N là ông Đỗ Việt A, sinh năm 1963, ông Đỗ Việt A bị bệnh chậm phát triển tâm thần mức độ trung bình, bà N là người trực tiếp chăm sóc ông Đỗ Việt A từ nhỏ. Từ năm 2012 đến 2013, ông Đỗ Việt A điều trị tại Bệnh viện T1 với chẩn đoán “Chậm phát triển tâm thần mức độ T”. Tổ trưởng Tổ dân phố nơi cư trú cũng xác nhận Đỗ Việt A là đối tượng tâm thần bẩm sinh từ nhỏ, không có vợ con, bố ông Đỗ Việt A là ông Đỗ Xuân H1 đã chết năm 2006. Ông Đỗ Việt A được UBND phường H (cũ) cấp Giấy xác nhận khuyết tật, dạng khuyết tật thần kinh, tâm thần mức độ nặng. Nay, bà Tạ Thị N là mẹ của ông Đỗ Việt A xác định ông A không còn khả năng nhận thức và làm chủ hành vi nên yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đỗ Việt A mất năng lực hành vi dân sự, đồng thời bà N trình bày do hiện nay bà tuổi đã cao, không có điều kiện làm người giám hộ đương nhiên cho ông Đỗ Việt A nên bà N xin từ chối làm người giám hộ cho ông A và đề nghị Tòa án cử bà Đỗ Thị T (em gái ông Đỗ Việt A) làm người giám hộ cho ông Đỗ Việt A theo quy định pháp luật. * Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Như H, bà Đỗ Thị N1 cùng thống nhất trình bày: Các bà cùng là em gái của ông Đỗ Việt A, xác nhận ông Đỗ Việt A bị bệnh tâm thần từ nhỏ và được mẹ là bà Tạ Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay bà Tạ Thị N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đỗ Việt A mất năng lực hành vi dân sự, đồng thời thống nhất cử bà Đỗ Thị T là em gái ông Đỗ Việt A làm người giám hộ cho ông A theo quy định pháp luật, thì các bà đều thống nhất đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Tạ Thị N và đề nghị Tòa án chỉ định bà Đỗ Thị T là người giám hộ cho ông Đỗ Việt A. * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị T trình bày: Bà T là em gái của ông Đỗ Việt A, bà xác nhận ông Đỗ Việt A bị bệnh tâm thần từ nhỏ và được mẹ là bà Tạ Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay bà Tạ Thị N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đỗ Việt A mất năng lực hành vi dân sự, đồng thời cử bà làm người giám hộ cho ông Đỗ Việt A thì bà thống nhất đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Tạ Thị N và đề nghị Tòa án chỉ định bà T là người giám hộ cho ông Đỗ Việt A. * Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng trong việc giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, người yêu cầu thực hiện đầy đủ quyền của mình theo quy định.
- Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đà Nẵng áp dụng các Điều 22, 53, 54 của Bộ luật Dân sự; Điều 376, 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Tuyên bố ông Đỗ Việt A là người mất năng lực hành vi dân sự. Bà Đỗ Thị T là người giám hộ của ông Đỗ Việt A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đà Nẵng nhận định: [1] Về tố tụng: Bà Tạ Thị N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đỗ Việt A, sinh năm 1963, nơi cư trú: tổ D HP, phường A, thành phố Đà Nẵng mất năng lực hành vi dân sự. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 27, Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đà Nẵng. [2] Xét yêu cầu của bà Tạ Thị N thì thấy: Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đà Nẵng đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với ông Đỗ Việt A. Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 1706/KLGĐ ngày 16/7/2026 của Trung tâm P kết luận ông Đỗ Việt A như sau: “Thời điểm hiện tại: kết luận theo tiêu chuẩn y học: Chậm phát triển tâm thần nặng (F72-ICD-10). Về năng lực hành vi dân sự: Mất năng lực hành vi dân sự”. Xét thấy, kết luận giám định pháp y tâm thần của Trung Tâm P phù hợp với lời trình bày của bà Tạ Thị N và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cũng như tình trạng bệnh hiện tại của ông Đỗ Việt A và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ sơ vụ việc. Do đó, yêu cầu của bà Tạ Thị N là có căn cứ theo quy định Điều 22 Bộ luật Dân sự nên chấp nhận. Tại phiên họp, bà Tạ Thị N và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là các bà Đỗ Thị Như H, Đỗ Thị N1, Đỗ Thị T cùng thống nhất cử bà Đỗ Thị T làm người giám hộ đương nhiên của ông Đỗ Việt A theo quy định tại Khoản 2 Điều 53, 54 Bộ luật Dân sự, xét thấy phù hợp nên chấp nhận. [3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên họp là phù hợp với nhận định của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đà Nẵng nên chấp nhận. [4] Về chi phí cho việc giám định pháp y tâm thần đối với ông Đỗ Việt A, bà Tạ Thị N đã thực hiện xong. [5] Về lệ phí Tòa án: Bà Tạ Thị N là người cao tuổi nên được miễn lệ phí Tòa án theo quy định pháp luật. Từ những nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 361, 366, 370, 372, 376, 377, 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22, 53, 54 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu của bà Tạ Thị N về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” đối với ông Đỗ Việt A. 1. Tuyên bố: Ông Đỗ Việt A, sinh năm 1963; Nơi ĐKHKTT: Tổ D H, phường A, thành phố Đà Nẵng mất năng lực hành vi dân sự. 2. Bà Đỗ Thị T (em gái của ông Đỗ Việt A) là người giám hộ đương nhiên của ông Đỗ Việt A. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo quy định tại Điều 57 và Điều 58 của Bộ luật Dân sự. 3. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Tạ Thị N là người cao tuổi nên được miễn lệ phí Tòa án theo quy định pháp luật. 4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực 3 - Đà Nẵng; - Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Bình |