- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vận chuyển — án dân sự — "Người khởi kiện Phạm Văn Th và người bị kiện Nguyễn Văn Y về việc "Tranh chấp nghĩa vụ trả tiền""
- Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 14 tháng 11 năm 2022, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 32 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 17/2022/QĐCNHGT-DS | Vĩnh Thạnh, ngày 30 tháng 11 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN
Căn cứ các Điều 32, 33, 34 và 35 của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ vào yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành của ông Phạm Văn Thọ và Nguyễn Văn Y.
Sau khi nghiên cứu:
- Đơn khởi kiện “Tranh chấp về nghĩa vụ trả tiền” đề ngày 10 tháng 11 năm 2022 của ông Phạm Văn Th.
- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 14 tháng 11 năm 2022 về việc thỏa thuận giải quyết toàn bộ của các bên tham gia hòa giải sau đây:
+ Người khởi kiện: Ông Phạm Văn Th - sinh năm: 1975, địa chỉ: 485/10 khu phố Chiêu Liêu, phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
+ Người bị kiện: Ông Nguyễn Văn Y – sinh năm: 1987, địa chỉ: Thôn Định Quang, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.
- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (nếu có).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Kết quả hòa giải thành được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 14 tháng 11 năm 2022 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 14 tháng 11 năm 2022, cụ thể như sau:
Ông Nguyễn Văn Y xác nhận có thuê xe đầu kéo của ông Phạm Văn Th chở 05 công hàng từ cảng Cát Lái, thành phố Hồ Chí Minh về huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai và hiện còn nợ tiền thuê xe đầu kéo của ông Phạm Văn Th với số tiền 87.000.000 đồng (Tám mươi bảy triệu đồng).
Nay, ông Phạm Văn Th và ông Nguyễn Văn Y thống nhất thỏa thuận ông Y có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ trên cho ông Th thành 17 đợt, mỗi đợt trả 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), đợt cuối cùng trả 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng); phương thức trả định kỳ hàng tháng vào ngày cuối cùng của tháng; thời hạn trả bắt đầu từ tháng 12/2022 trở đi cho đến khi trả xong tổng số tiền nợ nêu trên.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, ông Phạm Văn Th và ông Nguyễn Văn Y không có tranh chấp, không có thỏa thuận nào khác.
2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các bên tham gia hòa giải; - TAND tỉnh Bình Định; - Viện kiểm sát cung cấp; - THADS cùng cấp; - Hòa giải viên; - Lưu hồ sơ vụ án, VP-VT. | THẨM PHÁN Trần Quốc Biểu |