vanban.org

Quyết định 17/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn N về việc “Ly hôn” đối với chị Ngô Thị T.

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Nđược ly hôn với chị Ngô Thị T; Về án phí: Anh Nguyễn Văn N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh N đã nộp theo biên lai số: AA/2019/0004448 ngày 30/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T/C HNGĐ (Nguyễn Văn N - Ngô Thị T)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn N về việc “Ly hôn” đối với chị Ngô Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SẦM SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 30 - 6 - 2022
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thơm

Ông Phạm Văn Hay;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Anh Quang – Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2022/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2022 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 12/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn N - sinh năm 1988;

Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Chị Ngô Thị T - sinh năm 1997;

Địa chỉ: Khu phố T, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Nguyễn Văn N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh N và chị T tự nguyện kết hôn với nhau, được hai bên gia đình đồng ý tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn khoảng 04 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở khu phố T, phường Q, thành phố S từ tháng 5 năm 2015, kể từ thời gian đó vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, có kéo dài thì cũng không có hạnh phúc nên nguyện vọng của anh N được giải quyết ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh N và chị T không có con chung nên anh N không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Anh N không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Đối với bị đơn chị Ngô Thị T: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng chị T không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố S phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,

Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xử cho anh N được ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh N và chị T không có con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Anh N không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Buộc nguyên đơn anh Nguyễn Văn N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố S có đủ cơ sở nhận định.

[1]. Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự về “Ly hôn”. Do bị đơn có nơi cư trú tại thành phố S, nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố S là đúng quy định tại các Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn chị Ngô Thị T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng chị T vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng và trở ngại khách quan; nguyên đơn anh Nguyễn Văn N có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh Nam.

Xét về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn N và chị Ngô Thị T đã thực hiện lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương, việc kết hôn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, cả chị và anh không vi phạm các quy định về độ tuổi và các điều kiện cấm kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình. Như vậy, hôn nhân của anh, chị được công nhận là hợp pháp.

. Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn: Trong thời kỳ hôn nhân, anh Nvà chị T sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau về tính tình, bất đồng quan điểm sống, khiến vợ chồng anh chị thường xuyên cải vả, cuộc sống hôn nhân không được hạnh phúc. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để giải quyết nhưng chị T vẫn vắng mặt không lý do, điều đó thể hiện chị T không mong muốn vợ chồng hòa giải những bất đồng để quay về đoàn tụ, không tha thiết với cuộc sống hôn nhân. Như vậy, mâu thuẫn cuộc sống hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay nguyện vọng xin ly hôn của anh Nlà có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Nguyễn Văn N được ly hôn chị Ngô Thị T là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

. Về con chung: Anh N và chị T không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

.Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm anh Nguyễn Văn Nphải chịu, theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn N về việc “Ly hôn” đối với chị Ngô Thị T.

Xử:

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Nđược ly hôn với chị Ngô Thị T;

Về án phí: Anh Nguyễn Văn N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh N đã nộp theo biên lai số: AA/2019/0004448 ngày 30/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Anh N đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ