- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn có yếu tố nước ngoài"
- Tòa quyết gì? [1] Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 17/2020/QĐST-HNGĐ | Phú Thọ, ngày 27 tháng 04 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thùy Hương;
Thư ký phiên họp: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lan Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 04 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 13/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2020 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 10/2020/QĐST - HNGĐ ngày 20 tháng 04 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Chị Chu Thị Diệu L - sinh năm 1992;
HKTT: Khu 6, phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ;
Hiện đang ở: Nhật Bản.
- Anh Hoàng Nhật M – sinh năm 1991;
HKTT: phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An;
Hiện đang ở: Nhật Bản.
(Anh M, chị L đều có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Chu Phú I – sinh năm 1957;
HKTT: khu 6, phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
(Là người được chị Chu Thị Diệu L ủy quyền nộp chi phí, nghĩa vụ tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 22/02/2020)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, đơn đề nghị và bản tự khai của chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M kết hôn ngày 30/05/2016 tại Đại sứ quán nước CHXHCN Việt Nam tại Nhật Bản trên cơ sở tự nguyện. Trong thời gian chung sống, vợ chồng anh chị thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân từ tháng 08/2019 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L và anh M đều thuận tình ly hôn.
Về con chung: chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Bảo A, sinh ngày 28/07/2018. Khi ly hôn anh chị thống nhất thỏa thuận: chị Chu Thị Diệu L sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Bảo A và anh Hoàng Nhật M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu A với mức 2.000.000đ (hai triệu đồng)/tháng cho đến khi cháu trưởng thành.
Về tài sản chung, công nợ chung: chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: chị Chu Thị Diệu L tự nguyện xin chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật và không yêu cầu anh Hoàng Nhật M phải chịu. Chị L ủy quyền cho ông Chu Phú I (là bố đẻ) nộp thay các chi phí, nghĩa vụ tố tụng.
Chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M đề nghị Tòa án không tiến hành công khai chứng cứ, hòa giải và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm: Đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M. Công nhận sự thỏa thuận về nuôi con chung: giao cháu Hoàng Bảo A, sinh ngày 28/07/2018 cho chị Chu Thị Diệu L trực tiếp nuôi dưỡng, anh Hoàng Nhật M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Hoàng Bảo A 2.000.000đ (hai triệu đồng)/tháng cho đến khi cháu thành niên. Công nhận sự tự nguyện nộp lệ phí giải quyết việc dân sự và án phí cấp dưỡng nuôi con của chị Chu Thị Diệu L. Xác nhận chị L đã nộp lệ phí giải quyết việc dân sự và ủy quyền cho ông Chu Phú I nộp thay các nghĩa vụ tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ nhận định:
Quan hệ hôn nhân giữa chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống, hai vợ chồng thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân từ tháng 08/2019 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M đều thuận tình ly hôn.
Sau khi nộp Đơn xin thuận tình ly hôn đề ngày 18/12/2019 cùng các tài liệu, chứng cứ liên quan vào ngày 09/01/2020 tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M đều quay trở lại Nhật Bản để sinh sống và làm việc. Hai anh chị đã gửi Đơn xin thuận tình ly hôn (bổ sung) cùng Đơn đề nghị giải quyết ly hôn đề ngày 22/02/2020 về từ Nhật Bản. Do các văn bản trên không có xác nhận của Đại sứ quán nước CHXHCN Việt Nam tại Nhật Bản, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ giám định chữ ký và chữ viết của chị L và anh M trong Đơn xin thuận tình ly hôn (bổ sung) và Đơn đề nghị giải quyết ly hôn đề ngày 22/02/2020 với chữ ký và chữ viết của hai anh chị trong Đơn xin thuận tình ly hôn đề ngày 18/12/2019 và Đơn xin giải quyết vắng mặt đề ngày 08/01/2020. Kết quả giám định kết luận: “…Chữ ký đứng tên Hoàng Nhật M và các chữ “Hoàng Nhật M” dưới mục “Chồng” trên “Đơn xin thuận tình ly hôn”, “Đơn đề nghị giải quyết ly hôn” (mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2) so với chữ ký đứng tên Hoàng Nhật M và các chữ “Hoàng Nhật M”dưới mục “Chồng” trên “Đơn xin giải quyết ly hôn vắng mặt”, “Đơn xin thuận tình ly hôn” (mẫu so sánh ký hiệu M1, M2) là do cùng một người ký và viết ra. Chữ ký dạng chữ viết “L” và các chữ “Chu Thị Diệu L” dưới mục “Vợ” trên “Đơn xin thuận tình ly hôn”, “Đơn đề nghị giải quyết ly hôn” (mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2) so với các chữ “Chu Thị Diệu L” dưới mục “Vợ” trên “Đơn xin giải quyết ly hôn vắng mặt” (mẫu so sánh ký hiệu M1) và chữ ký dạng chữ viết “L” và các chữ “Chu Thị Diệu L” dưới mục “Vợ” trên “Đơn xin thuận tình ly hôn” (mẫu so sánh ký hiệu M2) là do cùng một người viết ra.” Chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M đã ký vào Đơn xin thuận tình ly hôn (bổ sung) và Đơn đề nghị giải quyết ly hôn đề ngày 22/02/2020 gửi về từ Nhật Bản, thể hiện ý chí quan điểm thuận tình ly hôn. Từ đó, có đủ cơ sở để kết luận việc chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, cần được công nhận.
Về con chung: chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M xác nhận vợ chồng có 01 con là cháu Hoàng Bảo A, sinh ngày 28/07/2018. Anh chị thống nhất thỏa thuận chị Chu Thị Diệu L sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu A, anh M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu A 2.000.000đ (hai triệu đồng)/tháng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi. Xét thấy thỏa thuận của chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận.
Về tài sản chung, công nợ chung: chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M xác định không có tài sản chung và công nợ chung nên không cần Tòa án giải quyết.
Về lệ phí, án phí: chị Chu Thị Diệu L tự nguyện nộp toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự, án phí cấp dưỡng nuôi con thay cho anh Hoàng Nhật M là phù hợp với quy định của pháp luật nên được công nhận.
Anh Hoàng Nhật M phải chịu 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con. Chị Chu Thị Diệu L tự nguyện nộp án phí cấp dưỡng nuôi con thay cho anh Hoàng Nhật M là phù hợp với quy định của pháp luật nên được công nhận.
Đối với án phí cấp dưỡng nuôi con: chị Chu Thị Diệu L ủy quyền cho ông Chu Phú I nộp thay tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ là phù hợp, được công nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 29, điểm h khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 149, Điều 361, 362, 365, 366, 367, 369 và Điều 370 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 55, 81, 82, 83 và Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 6 Điều 27 và khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M.
[2] Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M về nuôi con chung: giao cháu Hoàng Bảo A, sinh ngày 28/07/2018 cho chị Chu Thị Diệu L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu thành niên. Anh Hoàng Nhật M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu A 2.000.000đ (hai triệu đồng)/tháng kể từ tháng 05/2020 cho đến khi cháu thành niên.
Anh Hoàng Nhật M có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
[3] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Chu Thị Diệu L và anh Hoàng Nhật M xác định không có nên Tòa án không giải quyết.
[4] Về án phí: Công nhận chị Chu Thị Diệu L tự nguyện chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc hôn nhân gia đình sơ thẩm và 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận chị Chu Thị Diệu L đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004062 ngày 10/01/2020 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Xác nhận chị Chu Thị Diệu L ủy quyền cho ông Chu Phú I nộp thay án phí cấp dưỡng nuôi con tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Cục THADS tỉnh Phú Thọ; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Thị Thùy Hương |