vanban.org

Quyết định 17/2020/QĐ-TA

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 26/06/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với: Chu Văn T, sinh ngày 05 tháng 5 năm 1979.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Chu Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với: Chu Văn T, sinh ngày 05 tháng 5 năm 1979.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 17/2020/QĐ-TATP Lạng Sơn, ngày 26 tháng 6 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Lương Thị Lan

2. Thư ký phiên họp: Bà Lành Thị Thanh Nụ

Ngày 26 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 13/QĐ-TA ngày 17 tháng 6 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Chu Văn T; giới tính: Nam.

Sinh ngày 05 tháng 5 năm 1979.

CMND số: …………….; ngày cấp: …………; nơi cấp: ………….

Dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 01/12.

Nguyên quán: Huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Hiện không có nơi cư trú ổn định, đang được giao cho Cơ sở C tỉnh Lạng Sơn quản lý.

Nghề nghiệp: Không

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Con ông Chu Viết M và bà Vương Thị K.

Vắng mặt tại phiên họp

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Ông Nguyễn Duy Khiêm - Chuyên viên (theo quyết định ủy quyền số 372/QĐ-LĐTB&XH ngày 26/6/2020).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Bà Lê Thị Khanh - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Người bị đề nghị Chu Văn T, sinh năm 1979, có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, hiện nay đi lang thang không có nơi cư trú ổn định và là người nghiện chất ma túy. Ngày 21/5/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định số 174/QĐ-UBND giao cho cơ sở C tỉnh Lạng Sơn quản lý người không có nơi cư trú ổn định bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian lập hồ sơ đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc. Tại Biên bản ghi lời khai ngày 21 tháng 5 năm 2020, Chu Văn T đã khai nhận hành vi sử dụng ma túy trái phép của mình và hàng ngày bị lệ thuộc vào chất ma túy Heroine. Cơ quan chức năng đã tiến hành kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy đối với người bị đề nghị Chu Văn T, tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 21 tháng 5 năm 2020 của người có thẩm quyền xác định Chu Văn T nghiện ma túy, loại ma túy đang sử dụng là Heroine.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn trình bày ý kiến: Người bị đề nghị Chu Văn T, sinh năm 1979; không có nơi cư trú ổn định, ban ngày đi lang thang, buổi tối thường hay ngủ tại khắp nơi (công viên, gầm cầu) trên địa bàn thành phố L và nghiện chất ma túy Heroine từ năm 2012. Ngày 23/12/ 2015 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng tại cơ sở C tỉnh Lạng Sơn, ngày 23/6/2017 về nhà lại tái nghiện cho đến nay, bị lệ thuộc vào ma túy Heroine, hiện đang được giao cho Cơ sở C tỉnh Lạng Sơn quản lý. Trong quá trình lập hồ sơ, người bị đề nghị Chu Văn T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính nên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Chu Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 22 đến 24 tháng.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biệp pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T là đầy đủ, có đủ căn cứ pháp lý và đảm bảo tuân thủ đúng trình tự luật định. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về việc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T; đề nghị thời gian áp dụng từ 20 đến 22 tháng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Chu Văn T được thực hiện như sau:

Đối với các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đã có bản tóm tắt lý lịch của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Biên bản làm việc, Biên bản lấy lời khai của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; phiếu trả lời kết quả của người có thẩm quyền về tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; quyết định giao cho tổ chức xã hội quản lý người không có nơi cư trú ổn định trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và tài liệu xác minh người bị đề nghị không có nơi cư trú ổn định. Văn bản số: 327/LĐTBXH ngày 12/6/2020 của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn. Như vậy hồ sơ đã đảm bảo đủ các tài liệu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Điều 1 Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, khoản 1 Điều 5 Thông tư số: 05/2019/TT-BCA ngày 07/02/2019 của Bộ Công an quy định việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối với thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do đó, tính từ ngày 21/5/2020 thì thời hiệu vẫn đảm bảo phù hợp theo quy định.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là nam giới, sinh năm 1979, không có căn cứ chứng minh bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính; ngày 23/12/ 2015 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng tại cơ sở C tỉnh Lạng Sơn, ngày 23/6/2017 về nhà lại tái nghiện cho đến nay, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, bị lệ thuộc vào ma túy Heroine và thường đi lang thang không có nơi cư trú ổn định nên đủ điều kiện bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Đối với thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là đúng theo quy định của pháp luật: Theo điểm b, c khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì đối tượng Chu Văn T không có nơi cư trú ổn định trên địa bàn phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn nên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn và Công an phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn có trách nhiệm thu thập tài liệu lập hồ sơ đề nghị theo quy định của pháp luật.

Đối với điều kiện, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đảm bảo theo quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính, khoản 1 Điều 3 Nghị định số: 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T là đầy đủ, hợp pháp, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Hành vi vi phạm của Chu Văn T ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.

Tiền án, tiền sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Bản thân Chu Văn T có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là có lỗi, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước (nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự) nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi vi phạm đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong một thời gian nhất định nhằm mục đích để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc. Có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục Chu Văn T trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa Chu Văn T vào vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 22 đến 24 tháng; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn cũng nhất trí đề nghị với thời hạn từ 20 đến 22 tháng. Xét đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà người bị đề nghị Chu Văn T đã gây ra nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 7, khoản 2 Điều 9, Điều 95, 96, 103, 104, 105, 106 và Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính, khoản 1 Điều 3 Nghị định số: 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, khoản 1 Điều 5 Thông tư số: 05/2019/TT-BCA ngày 07/02/2019 của Bộ Công an quy định việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, các Điều 16, 22, 23, 24, 30, 31 Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với: Chu Văn T, sinh ngày 05 tháng 5 năm 1979. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, hiện không có nơi cư trú ổn định, đang được giao cho Cơ sở C tỉnh Lạng Sơn quản lý.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Cỡ chữ