vanban.org

Quyết định 17/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Huyền Trang

Bà Lê Thị Huyền Trang được ly hôn với ông Trần Văn Trí (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn tại UBND phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài, Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 90, ngày ngày 19 tháng 10 năm 2009). Về con chung, cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung: Bà Trang không yêu cầu, ông T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Huyền Trang
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 17/2020/HNGĐ-ST
Ngày 21/5/2020
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƢỚC

Thành phần Hội Đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung

Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Được, bà Phạm Thị Phiến

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phô Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Thủy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 56/2020/TLST-HNGĐ ngày 26/02/2020 về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11A/2020/QĐXX-ST ngày 01/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Lê Thị Huyền Trang - SN: 1990 (có) Nơi cư trú: khu phố Tân Tiến, phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn: ông Trần Văn Trí - SN: 1987 (vắng) Nơi cư trú: khu phố Tân Xuân, phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Lê Thị Huyền Trang trình bày:

Tôi và ông Trần Văn Trí tự nguyện chung sống với nhau, có đăng kí kết hôn theo quy định pháp luật tại Uỷ ban nhân dân phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước vào ngày 19 tháng 10 năm 2009.

Chúng tôi chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vả. Nguyên nhân là do ông Trí ngoại tình và còn về nhà kiếm chuyện chửi bới, nhiều lần còn đánh đập tôi. Vợ chồng vì thế không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc cho nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên tôi không thể chịu đựng thêm. Hiện chúng tôi đã sống ly thân. Thời gian sống ly thân, tôi đã suy nghĩ rất kỹ, tôi không thể chịu đựng thêm nữa vì cuộc sống chung của chúng tôi không còn hạnh phúc, hôn nhân giữa tôi và ông Trí không thể kéo dài, do vậy, tôi mong muốn Toà án giải quyết cho tôi được li hôn với ông Trí

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Trong thời gian chung sống chúng tôi có một con chung là Trần Thị Minh Tâm, sinh năm 2007, do khi ly thân chúng tôi đã thỏa thuận về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nên nay tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trần Văn Trí: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần giấy triệu tập cùng các văn bản của Tòa án như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa để triệu tập ông Trí lên Tòa án làm việc, tham gia phiên họp và hòa giải, tham gia phiên tòa hôn nhân sơ thẩm nhưng ông Trí vẫn vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã tuân thủ các quy định của thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không thực hiện theo quy định tại điều 70, 72,227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Cuộc sống chung của bà Trang và ông Trí có mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án thì yêu cầu về ly hôn của bà Trang có cơ sở để được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội Đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn” do nguyên đơn bà Lê Thị Huyền Trang khởi kiện. Bị đơn ông Trần Văn Trí có nơi cư trú tại khu phố Tân Tiến, phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ hợp lệ giấy triệu tập cùng các văn bản của Tòa án như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa để triệu tập ông Trí lên Tòa án làm việc, tham gia phiên họp và hoà giải, tham gia phiên tòa hôn nhân sơ thẩm nhưng ông Trí vẫn vắng mặt không rõ lý do. Việc ông Trí không đến Tòa để tham gia tố tụng là đương nhiên từ bỏ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; căn cứ vào điều 72, điều 199, điều 227, điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành giải quyết và xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: bà Trang và ông Trí tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài , tỉnh Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 90, ngày 19 tháng 10 năm 2009 . Căn cứ điều 8 và điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp. Do vậy bà Trang có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông Trí là có căn cứ.

Xét yêu cầu xin được ly hôn với ông Trí của bà Trang thấy: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã khuyên bà Trang hàn gắn tình cảm, quay về đoàn tụ chung sống với ông Trí nhưng bà Trang vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Trí. Vì bà cho rằng cuộc sống chung không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Trí ngoại tình, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả, chửi bới, nhiều lần còn đánh đập lẫn nhau dẫn đến cuộc sống chung không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn yêu thương quan tâm, chăm sóc nhau. Hiện nay bà và ông Trí đã sống ly thân. Đối với bị đơn ông Trí trong quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, ông Trí biết được bà Trang yêu cầu ly hôn nhưng vẫn không đến Tòa án để thể hiện ý chí nguyện vọng hàn gắn gia đình cũng như đảm bảo quyền lợi ích chính đáng của mình. Do vậy, căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xem xét. Xét thấy, hôn nhân hạnh phúc được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau và cùng có trách nhiệm chung với gia đình, nhưng trong cuộc sống chung của bà Trang và ông Trí có những mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài vì mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trang.

[2.2]Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Trong thời gian chung sống bà Trang, ông Trí có một con chung nhưng bà Trang không yêu cầu, ông Trí vắng mặt nên HĐXX không giải quyết trong vụ án này.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trang không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Án phí sơ thẩm: Bà Trang phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Huyền Trang

Bà Lê Thị Huyền Trang được ly hôn với ông Trần Văn Trí (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn tại UBND phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài, Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 90, ngày ngày 19 tháng 10 năm 2009).

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung: Bà Trang không yêu cầu, ông Trí Văng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Án phí: Bà Trang phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0025714 quyển số 000515 ngày 26 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án thành phố Đồng Xoài.

Quyền kháng cáo: bà Trang có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Trí có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ