- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Huyền T.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 168/2020/HN-ST Ngày: 21 - 12 - 2020 V/v tranh chấp “Xin ly hôn, Nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Bi
2. Ông Thạch Tân Dân
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Anh Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông không tham gia phiên tòa.
Ngày 21 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp“Xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2020/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trần Thị Huyền T - Sinh năm: 1992 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh G;
2. Bị đơn: Nguyễn Hoàng V - Sinh năm: 1988 (Vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh G;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Huyền T trình bày:
Chị và anh V tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức cưới, đăng ký kết hôn ngày 01/9/2017 tại UBND xã T. Sau khi cưới vợ chồng sống bình thường đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh V nhắn tin với người phụ nữ khác nên vợ chồng cãi nhau. Mâu thuẫn kéo dài đến tháng 5 năm 2020 thì trầm trọng do anh V thường xuyên nhậu nhẹt, không lo kinh tế gia đình và có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng sống ly thân và không hàn gắn được tình cảm. Nay tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng V My, sinh ngày 20/4/2018. Hiện con đang sống với chị. Ly hôn, chị yêu cầu nuôi con, yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.
Về tài sản chung: chị xác định chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: chị xác định không có.
* Quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn Hoàng V đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh V không đến Tòa án để tham dự phiên hòa giải, không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: đây là vụ án tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị T về việc xin ly hôn, nuôi con chung; Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh V có quan hệ hôn nhân với nhau, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/9/2017 nên quan hệ hôn nhân của chị T và anh V là hợp pháp kể từ ngày đăng ký kết hôn.
Chị T cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vào năm 2018, nguyên nhân do anh V nhắn tin với người phụ nữ khác nên vợ chồng cãi nhau. Mâu thuẫn kéo dài đến tháng 5 năm 2020 thì trầm trọng do anh V thường xuyên nhậu nhẹt, không lo kinh tế gia đình và có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng sống ly thân và không hàn gắn được tình cảm. Xét thấy, thực tế cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh V đã có mâu thuẫn, nên anh chị sống ly thân và không trao đổi hàn gắn tình cảm với nhau được. Anh V không tham dự phiên hòa giải, không tham dự phiên tòa để được hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó, cho thấy anh V cũng không tha thiết đến hôn nhân của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: chị T trình bày anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Việt M, sinh ngày 20/4/2018. Hiện con chung đang do chị T trực tiếp nuôi. Ly hôn, chị T yêu cầu nuôi con. Xét thấy cháu M đang do chị T trực tiếp nuôi; anh V chưa có ý kiến về việc nuôi con chung. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, chị T đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nên cần giao cháu M cho chị T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị T yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, anh V chưa có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: chị T trình bày anh chị chưa yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và anh chị không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, anh V phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Huyền T.
1. Về quan hệ hôn nhân: cho chị Trần Thị Huyền T được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng V.
2. Về nuôi con chung:
- Chị Trần Thị Huyền T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Hoàng Việt M, sinh ngày 20/4/2018.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hoàng Việt M, sinh ngày 20/4/2018 mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Thực hiện cấp dưỡng lần đầu khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
- Anh V được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị T và các thành viên trong gia đình không được ngăn cản.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí: Chị T phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 49547 ngày 08/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông. Chị T đã nộp xong án phí.
Anh V phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
Trường hợp bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị T, anh V có quyền kháng cáo bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện TPĐ; - Chi cục THADS huyện TPĐ; - Các đương sự; - UBND xã T, huyện T; - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Văn Lắm |