- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị C yêu cầu tuyên bố chị Dương Thị N là đã chết."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị C về việc tuyên bố chị Dương Thị N là đã chết.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HÀ NỘI _____________________ Số: 167/2022/QĐDS-ST Ngày: 09/8/2022 V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG A – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp:
Bà Đỗ Thị Vân.
Thư ký phiên họp:
Bà Ngô Thị Thu Hà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A, thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thùy Dung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông A, Thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 43/2022/TLST-VDS ngày 14 tháng 03 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp số: 15/2022/QĐPH-VDS ngày 29 tháng 7 năm 2022.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1939. Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn Đường Y, xã Xuân N, huyện Đông A, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị C là: Anh Dương Đình T, sinh năm 1984 (Cháu nội bà Cậy). Hộ khẩu thường trú: Thôn Đường Y, xã Xuân N, huyện Đông A, Thành phố Hà Nội.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Dương Thị N, sinh ngày 06/12/1968 (tức chị Dương Thị N, sinh ngày 26/10/1968). Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đường Y, xã Xuân N, huyện Đông A, Thành phố Hà Nội.
Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Nguyễn Thị C yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Dương Thị N, sinh ngày 06/12/1968 (tức chị Dương Thị N, sinh ngày 26/10/1968). Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đường Y, xã Xuân N, huyện Đông A, Thành phố Hà Nội là đã chết.
Có mặt: Anh Tuấn.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đông A nhận định:
Tại đơn yêu cầu đề ngày 19/01/2022 và các bản tự khai tiếp theo, người yêu cầu, bà Nguyễn Thị C trình bày:
Bà có chồng là ông Dương Đình T, sinh năm 1936. Ông T chết ngày 23/6/2004.
Vợ chồng bà sinh được 07 người con gồm: Dương Đình T, Dương Thị N, Dương Thị Đ, Dương Thị N, Dương Thị O, Dương Thị N và Dương Thị H.
Trong đó có chị Dương Thị N, sinh năm 1968 bị bệnh trầm cảm nhiều năm, trước đây đã từng phải đi điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội. Bà không biết lý do tại sao giữa năm 2001 chị Nụ đã tự ý bỏ nhà đi biệt tích. Gia đình bà đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của chị Nụ.
Hiện nay chị Nụ vẫn chung sổ hộ khẩu với gia đình bà. Bà không biết chị Nụ ở đâu, còn sống hay đã chết. Gia đình bà đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của chị Nụ. Chị Nụ đã biệt tích hơn 21 năm, hiện không biết ở đâu. Khi bỏ đi biệt tích chị Nụ không có chồng, không có con.
Nay, để thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình phát sinh trong đời sống, bà đề nghị Tòa án tuyên bố chị Dương Thị N là đã chết.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A phát biểu ý kiến và đề nghị Toà án: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị C về việc tuyên bố chị Dương Thị N là đã chết.
Bà Cậy được miễn tiền lệ phí theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghe người đại diện theo ủy quyền của yêu cầu, xem xét tài liệu, chứng cứ và ý kiến đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A tại phiên họp.
XÉT THẤY
Bà Nguyễn Thị C có chồng là ông Dương Đình T, sinh năm 1936. Ông T chết ngày 23/6/2004. Vợ chồng bà Cậy sinh được 07 người con gồm: Dương Đình T, Dương Thị N, Dương Thị Đ, Dương Thị N, Dương Thị O, Dương Thị N và Dương Thị H.
Giữa năm 2001 chị Dương Thị N, sinh năm 1968 đã tự ý bỏ nhà đi biệt tích. Gia đình bà Cậy đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì chị Nụ. Khi bỏ đi biệt tích chị Nụ không có chồng, không có con.
Ngày 06/7/2022, Công an xã Xuân N, huyện Đông A có văn bản xác nhận chị Dương Thị N không có mặt tại địa phương từ năm 2001, nhưng vẫn có hộ khẩu tại thôn Đường Y, xã Xuân N, huyện Đông A, Hà Nội. Quá trình quản lý nhân khẩu, Công an xã Xuân N không có tài liệu gì thể hiện chị Nụ khai báo tạm vắng, cũng không có địa phương nào gửi xác minh hai chiều để làm thủ tục cấp tạm trú cho chị Nụ. Hiện tại chị Dương Thị N không sinh sống trên địa bàn xã Xuân N, huyện Đông A, thành phố Hà Nội.
Sau khi thụ lý việc dân sự, ngày 15/03/2022, Tòa án nhân dân huyện Đông A đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết, quyết định này đã được đăng, phát trên phương tiện thông tin đại chúng và thời hạn nhắn tin đã được hơn 04 tháng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Như vậy, sau hơn 21 năm liền kể từ ngày chị Nụ bỏ đi mà vẫn không có tin tức xác thực là chị Nụ còn sống. Vì vậy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị C đề nghị tuyên bố chị Dương Thị N là đã chết có căn cứ nên được chấp nhận.
Về ngày chết của chị Dương Thị N được xác định như sau: Tài liệu chứng cứ thu thập được không xác định được ngày, tháng, mà chỉ xác định chị Dương Thị N bỏ đi biệt tích năm 2001. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự thì ngày chết được xác định như sau: Nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng, như vậy thời hạn có tin tức cuối cùng của chị Nụ được tính từ ngày 01/01/2002. Vì vậy ngày chết của chị Dương Thị N là ngày 01/01/2007.
Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết được giải quyết theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A phù hợp pháp luật.
Về lệ phí: Bà Cậy là người cao tuổi nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 4 Điều 27, các Điều 372, 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị C về việc tuyên bố chị Dương Thị N là đã chết.
- Tuyên bố Chị Dương Thị N, sinh ngày 06/12/1968 (tức chị Dương Thị N, sinh ngày 26/10/1968). Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đường Y, xã Xuân N, huyện Đông A, Thành phố Hà Nội đã chết ngày 01 tháng 01 năm 2007.
- Khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của chị Dương Thị N, sinh ngày 06/12/1968 (tức chị Dương Thị N, sinh ngày 26/10/1968). Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đường Y, xã Xuân N, huyện Đông A, thành phố Hà Nội được giải quyết như đối với người đã chết.
- Lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị C thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí việc dân sự.
Bà Nguyễn Thị C có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết quyết định hợp lệ tại địa phương nơi cư trú cuối cùng.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đông A. - Những người tham gia tố tụng. - UBND xã Xuân N. - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên họp Đỗ Thị Vân |