- Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Chấm dứt nuôi con nuôi"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 26 Luật Nuôi con nuôi; Điều 10 Luật Nuôi con nuôi; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA Tỉnh Thanh Hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 166/2021/QĐST-VDS | Hoằng Hóa, ngày 15 tháng 6 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Thắng.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên họp:
Bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 164/2021/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2021 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 50/2021/QĐST-VDS ngày 08 tháng 6 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1960. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Hoàng Hồng P, sinh ngày 06/11/1994. Có mặt.
Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1963. Có mặt.
Bà Hoàng Thị O, sinh năm 1965. Có mặt.
Đều địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu ngày 03/6/2021, bản tự khai ngày 07/6/2021 và ý kiến tại phiên họp sơ thẩm của người yêu cầu thể hiện:
Năm 2007, vợ chồng bà Hoàng Thị H và ông Hoàng Văn T nhận chị Hoàng Hồng P (Lê Hồng P), sinh ngày 06/11/1994 làm con nuôi (chị P là con đẻ của ông Lê Văn Đ và bà Hoàng Thị O, ông Đ và bà O là em rể, em gái ông T).
Việc cho nhận con nuôi thực hiện được Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 62/QĐ-UBND ngày 08/10/2007 công nhận cho ông bà được nhận chị Lê Hồng P làm con nuôi, sau khi có Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi của Ủy ban nhân dân xã T, bà Hảo đã làm Giấy khai sinh cho chị P, họ tên từ Lê Hồng P thành Hoàng Hồng P theo họ của cha nuôi.
Sau khi nhận chị P làm con nuôi, vợ chồng ông bà đã chăm sóc, nuôi dưỡng, ăn học nay đã trưởng thành; nay chị P có nguyện vọng xin được về ở với bố mẹ đẻ là ông Lê Văn Đ và bà Hoàng Thị O. Bà Hoàng Thị H đồng ý theo nguyện vọng của chị P, bà H đề nghị giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với chị Hoàng Hồng P (Ông Hoàng Văn T bố nuôi chị P đã chết ngày 23/12/2020, theo Trích lục khai tử số 180/TLKT-BS của Ủy ban nhân dân xã T ngày 23/12/2020).
Trong thời gian chị Hoàng Hồng P ở cùng ông bà, chị P không có tài sản chung, không có tài sản riêng và cũng không có công sức đóng góp gì vào khối tài sản chung của ông bà nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Hoàng Hồng P trình bày: Tháng 10 năm 2007 chị P được bố mẹ nuôi là ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị H nhận làm con nuôi, khi nhận làm con nuôi bố mẹ đẻ chị là ông Lê Văn Đ và bà Hoàng Thị O đồng ý, hai bên có làm thủ tục và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa công nhận. Kể từ thời gian đó đến nay chị vẫn là con ngoan của cha mẹ nuôi và được cha mẹ nuôi lo cho ăn học nên người.
Nay chị P đã trưởng thành nguyện vọng là được về ở với cha mẹ đẻ và mẹ nuôi có yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, chị P hoàn toàn đồng ý. Trong thời gian ở cùng với cha mẹ nuôi là ông T, bà H chị không đóng góp được gì vào khối tài sản của cha mẹ nuôi và chị không yêu cầu gì về tài sản.
Ông Lê Văn Đ và bà Hoàng Thị O trình bày: Năm 2007, do hoàn cảnh neo người ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị H muốn nhận con gái của ông, bà là Lê Hồng P, sinh năm 1994 để làm con nuôi, vợ chồng tôi đồng ý và hoàn toàn tự nguyện.
Việc cho nhận con nuôi được Ủy ban nhân dân xã T ra Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi theo đúng quy định của pháp luật.
Nay cháu P đã trưởng thành, có nguyện vọng xin được về ở với bố mẹ đẻ và vợ chồng ông Đ, bà O đồng ý theo nguyện vọng của chị P. Vậy đề nghị Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với chị Hoàng Hồng P theo yêu cầu của bà Hoàng Thị H và của cháu P, gia đình tôi.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết Thẩm phán đã áp dụng các biện pháp yêu cầu đương sự cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh, đảm bảo tính khách quan. Thời hạn tố tụng được thực hiện đúng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, đảm bảo tôn trọng quyền yêu cầu của đương sự.
Về quan điểm giải quyết: Áp dụng khoản 5 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10, khoản 1 Điều 25, Điều 26, Điều 27 Luật Nuôi con nuôi; Điều 78 Luật Hôn nhân và Gia đình: Chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thị H, chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Hoàng Thị H đối với chị Hoàng Hồng P.
Lệ phí: Miễn lệ phí sơ thẩm việc dân sự cho bà Hoàng Thị H theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét đơn yêu cầu của người yêu cầu là bà Hoàng Thị H (Ông Hoàng Văn T bố nuôi chị P, đã chết ngày 23/12/2020) về việc yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa vợ chồng ông bà đối với chị Hoàng Hồng P; đây là yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa theo quy định tại khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm l khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Luật Nuôi con nuôi.
[2] Về nội dung yêu cầu: Theo các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự thì chị Hoàng Hồng P (Lê Hồng P), sinh ngày 06/11/1994 được ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị H nhận làm con nuôi và Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 62/QĐ-UBND ngày 08/10/2007, quan hệ giữa ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị H và chị Hoàng Hồng P là quan hệ cha mẹ nuôi, con nuôi hợp pháp.
Quá trình chị Hoàng Hồng P làm con nuôi của ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị H không xảy ra mâu thuẫn gì, các bên thực hiện các quyền của cha mẹ nuôi đối với con nuôi và con nuôi đối với cha mẹ nuôi đầy đủ. Đến nay chị Hoàng Hồng P đã trưởng thành, muốn quay về bên cha mẹ đẻ của mình, mẹ nuôi là bà Hoàng Thị H đồng ý để chị Hoàng Hồng P quay về với cha mẹ đẻ là ông Lê Văn Đ, bà Hoàng Thị O, các bên đều tự nguyện chấm dứt về quyền và nghĩa vụ việc nuôi con nuôi. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 25; Điều 26 và Điều 27 Luật Nuôi con nuôi; Điều 78 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thị H về yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi đối với chị Hoàng Hồng P; khi được nhận làm con nuôi, chị P đã được làm giấy khai sinh đổi họ của mình thành họ của cha nuôi, nay chấm dứt việc nuôi con nuôi, chị P có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi được cho làm con nuôi.
[3] Trong thời gian chị Hoàng Hồng P làm con nuôi ở cùng ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị H, chị P không có tài sản chung, không có tài sản riêng và cũng không có công sức đóng góp gì vào khối tài sản chung của ông T, bà H nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản vì vậy Tòa án không xem xét.
[4] Về lệ phí: Bà Hoàng Thị H là người cao tuổi nên được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm l khoản 2 Điều 39; Điều 370; 371 và Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 10; khoản 1 Điều 25; khoản 1 Điều 26; Điều 27 Luật Nuôi con nuôi;
Điều 78 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Hoàng Thị H về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”.
2. Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Hoàng Thị H đối với chị Hoàng Hồng P, sinh ngày 06 tháng 11 năm 1994. Chị P có quyền lấy lại họ của mình như trước khi được cho làm con nuôi.
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi là bà Hoàng Thị H và con nuôi là chị Hoàng Hồng P chấm dứt kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật.
Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ là ông Lê Văn Đ và bà Hoàng Thị O đối với con đẻ là chị Hoàng Hồng P được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt.
3. Lệ phí: Miễn toàn bộ số tiền 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho bà Hoàng Thị H.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Hoằng Hóa; - Chi cục THADS huyện Hoằng Hóa; - UBND xã Hoằng Thịnh; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Ngọc Thắng |