- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thảo N:
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| T TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1658/2019/HNST Ngày: 29/11/2019 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị X
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị T
2. Ông Phạm Văn C
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, Tp. Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc M, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1118/2019/TLST – HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 420/2019/QĐXX-ST ngày 28/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 310/2019/QĐST-HNGĐ ngày 13/11/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thảo N, sinh năm: 1986 (có mặt)
Nơi cư trú: ấp 7, xã B, huyện C, Tp. HCM
Bị đơn: Ông Trần Văn Minh, sinh năm: 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: 34/9 ấp 5, xã Đ, huyện H, Tp. HCM
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, các biên bản không tiến hành hòa giải được tại tòa nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thảo N trình bày:
Bà và ông Trần Văn M có tự nguyện tìm hiểu và tiến đến xây dựng gia đình vào năm 2013, hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H. Sau khi xây dựng gia đình, thời gian đầu vợ chồng chung sống có hạnh phúc, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn chủ yếu do vợ chồng không hợp nhau, ông M không lo làm ăn, cờ bạc rượu chè, rồi còn có người phụ nữ khác làm vợ chồng mất hạnh phúc, bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông M không thay đổi và vợ chồng đã ly thân từ năm 2014 đến nay. Do mâu thuẩn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Văn M.
Về con chung: Bà và ông M có 02 con chung tên Trần Thị Ngọc N, sinh ngày 04/2/2007 và Trần Minh D, sinh ngày 29/6/2008. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 trẻ đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thảo N vẫn giữ nguyên ý kiến yêu cầu như đã trình bày: Xin được ly hôn với ông Trần Văn M vì bà xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết, tình cảm vợ chồng đến nay không còn.
Về con chung: Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Đối với bị đơn ông Trần Văn M, Tòa án đã tiến hành xác minh, tống đạt hợp lệ các Thông báo, Giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông M vẫn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo trình tự thủ tục pháp luật quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Bị đơn ông Trần Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Lời trình bày của bà Huỳnh Thị Thảo N tại phiên tòa công khai hôm nay phù hợp với chứng cứ thu thập được trong hồ sơ thể hiện đây là mối quan hệ hôn nhân hợp pháp vì đôi bên có đăng ký kết hôn theo luật định.
Xét nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn giữa bà N và ông M chủ yếu do vợ chồng không hợp nhau, giữa bà N và ông M có nhiều mâu thuẩn bất đồng xảy ra từ năm 2014 nhưng cả hai bên đều không thể tự giải quyết dẫn đến cuộc sống chung giữa vợ chồng mất hạnh phúc và vợ chồng đã ly thân từ năm 2014 đến nay, tại phiên tòa nguyên đơn bà N xác định mâu thuẩn giữa bà và ông M không thể giải quyết, nếu tiếp tục chung sống cũng không có hạnh phúc, các lần Tòa án mời ông đến hòa giải nhưng ông vắng mặt thể hiện không có thiện chí hòa giải. Hội đồng xét thấy mâu thuẩn giữa bà N và ông M đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên xét yêu cầu của bà Nguyên xin ly hôn ông Minh là có cơ sở nên chấp nhận.
Về con chung: Bà Nguyên và ông M có 02 con chung tên Trần Thị Ngọc N, sinh ngày 04/2/2007 và Trần Minh D, sinh ngày 29/6/2008. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, xét bà N có đủ điều kiện nuôi con và xét nguyện vọng của 02 trẻ đều xin được ở với mẹ nên Hội đồng xét thấy cần giao 02 con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ghi nhận việc bà N không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: không có.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015,
Căn cứ Điều 51, 56, 58, 81, 82, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thảo N:
* Về quan hệ vợ chồng: Bà Huỳnh Thị Thảo N ly hôn ông Trần Văn M.
* Về con chung: Giao bà N trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Thị Ngọc N, sinh ngày 04/2/2007 và Trần Minh D, sinh ngày 29/6/2008 đến tuổi trưởng thành, tạm ngừng tiền cấp dưỡng nuôi con đối với ông M cho đến khi bà N có yêu cầu.
Vì lợi ích con chung, sau khi ly hôn bên không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
* Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
* Về nợ chung: không có.
Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bà N chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được tính cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0004851 ngày 28.8.2019 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện H.
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thảo N có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn ông Trần Văn M vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND huyện H; - Chi Cục THADS huyện H; - UBND xã Đ, huyện H; - Các đương sự; - Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị X |