vanban.org

Quyết định 165/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Lê Trường M.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu để điều trị cắt cơn, giải độc: Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy B (thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh). Cơ sở chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc: Cơ sở Cai nghiện ma túy P (thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Le Truong M"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Lê Trường M.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 1 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 165/QĐ-TAThành phố Thủ Đức, ngày 09 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Phương Châu

2. Thư ký phiên họp: Bà Lưu Thị Ngọc Hương

Ngày 09 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp giải quyết hồ sơ thụ lý số 145/2022/TLST-XLHC ngày 20 tháng 7 năm 2022 về việc “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số 137/QĐ-TA ngày 29 tháng 7 năm 2022 đối với:

Họ và tên: Ông Lê Trường M, sinh năm 1979

Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh.

Thường trú: ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Chỗ ở hiện nay: chung cư T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án; tiền sự: Theo tài liệu hồ sơ thể hiện:

- Năm 2011, bị Công an Quận 2 (nay là Công an thành phố Thủ Đức) bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị xử phạt 18 tháng tù giam.

- Năm 2018, bị Công an Quận 2 (nay là Công an thành phố Thủ Đức) bắt về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị xử phạt 01 năm 03 tháng tù giam.

Con ông Lê Châu T và bà Lê Thị T

(Ông Lê Trường M vắng mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lý Hồ Nhựt Hoàng - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Trần Đức Sơn – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 31/12/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 2144/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với ông Lê Trường M, thời hạn là 03 tháng, kể từ ngày 31/12/2021 đến ngày 31/3/2022. Ông M đã chấp hành xong quyết định theo Giấy chứng nhận số 03/GCN-UBND ngày 31/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 10/06/2022, Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện ông M tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đưa ông M đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh xét nghiệm ma túy. Tại Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 10/6/2022 xác định ông M dương tính với chất ma túy và ông M không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện.

Ngày 19/7/2022, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức đã có văn bản số 668/LĐTBXH đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa ông M vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp:

Đại diện cơ quan đề nghị giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Trường M trong thời gian từ 12 tháng đến 24 tháng.

Người bị đề nghị ông Lê Trường M vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Thẩm phán, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ việc cho đến thời điểm mở phiên họp đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo luật định. Đồng thời, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, xét thấy:

Tại phiên họp, ông Lê Trường M vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

Căn cứ Biên bản vi phạm hành chính ngày 10/6/2022 của Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, ông M đã có hành vi vi phạm hành chính do sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ kết quả xét nghiệm của Bệnh viện Lê Văn Thịnh xác định ông M dương tính với chất ma túy.

Căn cứ Quyết định số 2144/QĐ-UBND ngày 31/12/2021 và Giấy chứng nhận số 03/GCN-UBND ngày 31/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, ông M đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường do nghiện ma túy kể từ ngày 31/12/2021 đến hết ngày 31/3/2022. Đến ngày 10/6/2022, ông M lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, ông M có nơi cư trú ổn định và không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Do đó, căn cứ Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 27, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, đề nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức là có cơ sở.

Xét thấy, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Trường M đã được thực hiện đúng trình tự, thẩm quyền, thời hạn theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020; Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Xét, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến nghiện ma túy của ông M không những ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân mà còn vi phạm trật tự, an toàn xã hội, nghiện ma túy là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông M vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian thích hợp để ông M được cai nghiện, học tập, tái hòa nhập cộng đồng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105 và Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020;

Căn cứ Điều 27, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;

Căn cứ Điều 1, Điều 2, Điều 3, Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

Căn cứ Điều 9; Điều 19; khoản 2 Điều 20; Điều 22; Điều 23; Điều 29; Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Lê Trường M.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu để điều trị cắt cơn, giải độc: Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy B (thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh).

Cơ sở chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc: Cơ sở Cai nghiện ma túy P (thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh).

2. Thời gian chấp hành là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.

3. Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định. Ông Lê Trường M có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 3 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức; Công an thành phố Thủ Đức; Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy B; Cơ sở Cai nghiện ma túy P và các cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ