vanban.org

Quyết định 164/2019/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/05/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lư Thị C.

Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1959, nơi cư trú cuối cùng tại số nhà 269/20/12 Vĩnh Viễn, Phường 5, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh là đã chết. Ngày chết của Nguyễn Ngọc Q được xác định là ngày 02 tháng 01 năm 1988. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "qu-ch"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lư Thị C.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 164/2019/QĐDS-STQuận 10, ngày 16 tháng 5 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v YÊU CẦU TUYÊN BỐ ĐÃ CHẾT

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thanh Nhàn.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Anh Thư - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên họp: Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 582/2018/TLST-VDS ngày 21 tháng 12 năm 2018 về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số 12/2019/QĐST-VDS ngày 28 tháng 4 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lư Thị C, sinh năm 1936.

Hộ khẩu thường trú: 269/20/12 Vĩnh Viễn, Phường 5, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh.

(Đương sự vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Người yêu cầu bà Lư Thị C trình bày tại đơn yêu cầu:

Bà Chanh và chồng là ông Nguyễn Văn Mậu (chết năm 1975) có con chung tên Nguyễn Ngọc Q (sinh năm 1959), có nơi cư trú cuối cùng tại nhà số 269/20/12 đường Vĩnh Viễn, Phường 5, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh. Vào năm 1982, ông Quang đi làm ở Quận 10 và không thấy trở về. Gia đình đã tìm kiếm suốt nhiều năm bằng nhiều hình thức khác nhau như đưa tin lên báo, đài, hỏi thăm người xung quanh, liên hệ với những người thân nhưng vẫn không tìm thấy, cũng như không có tin tức gì về ông Nguyễn Ngọc Q.

Nên bà Chanh đề nghị Tòa xem xét chấp nhận yêu cầu của bà về việc tuyên bố ông Nguyễn Ngọc Q là đã chết để lập hồ sơ khai di sản thừa kế tài sản của cha mẹ để lại.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 trình bày:

+ Về việc tuân theo thủ tục tố tụng: Tại phiên họp, Thẩm phán và Thư ký cũng như các đương sự đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc giải quyết việc dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Lư Thị C đề nghị tuyên bố ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1959 là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đươc thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện của Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về tư cách tham gia tố tụng và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Căn cứ đơn của bà Lư Thị C yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1959 là đã chết. Nhận thấy ông Nguyễn Ngọc Q, có nơi cư trú cuối cùng tại số 269/20/12 Vĩnh Viễn, Phường 5, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Xét thấy trích lục bộ khai sanh có cơ sở xác định bà Lư Thị C và ông Nguyễn Ngọc Q có quan hệ là mẹ con ruột. Do đó bà Chanh có đủ tư cách yêu cầu Tòa giải quyết về việc tuyên bố ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1959 là đã chết.

Bà Lư Thị C có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên căn cứ vào khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt bà Chanh.

Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ xác nhận của Công an Phường 5, Quận 10, Tp.HCM ngày 01/12/2018: “đương sự Nguyễn Ngọc Q đã xóa hộ khẩu tại địa chỉ 269/20/12 Vĩnh Viễn, Phường 5, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh (số cũ 377/1075 Nguyễn Tri Phương, Phường 5, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh), từ ngày 19/7/1983”. Căn cứ tờ khai gia đình năm 1983, ông Nguyễn Ngọc Q bị xóa tên trong tờ khai gia đình, cũng như theo lời thừa nhận bà Lư Thị C xác định: Ông Nguyễn Ngọc Q đi từ năm 1982 đến nay không thấy trở về nhà, Gia đình đã tìm kiếm khắp nơi và đã thực hiện đầy đủ thủ tục đăng tin tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng theo thủ tục tố tụng nhưng không thấy ông Nguyễn Ngọc Q trở về và cũng không nhận được tin tức gì của ông Quang. Bản thân ông Nguyễn Ngọc Q chưa có vợ, con. Căn cứ quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự: Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp: “Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống”. Tòa nhận thấy yêu cầu của bà Lư Thị C xin tuyên bố ông Nguyễn Ngọc Q là đã chết là có cơ sở chấp nhận.

Theo xác nhận của công an Phường 5, Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh và những người có liên quan đều thừa nhận: “Ông Nguyễn Ngọc Q mất tích từ năm 1982. Do không có chứng cứ xác định ngày, tháng biết được tin tức cuối cùng của ông Nguyễn Ngọc Q nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự: “Nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng” và điểm d khoản 1 điều 71 Bộ luật Dân sự, Tòa xác định ngày biết được tin tức cuối cùng của Nguyễn Ngọc Q là ngày 01 tháng 01 năm 1983. Theo Điều 148 Bộ luật Dân sự, ngày chết của Nguyễn Ngọc Q được xác định là ngày 02 tháng 01 năm 1988.

Căn cứ theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự: “Khi quyết định của tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với đã chết; Quan hệ tài sản của người bị toà án tuyên bố chết được giải quyết như đối với đã chết, tài sản của người đó được giải quyểt theo quy định của pháp luật về thừa kế”. Do đó quan hệ về nhân thân và quan hệ tài sản của ông Nguyễn Ngọc Q được giải quyết theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự.

Về lệ phí: Bà Lư Thị C, sinh năm 1939 được miễn nộp tiền lệ phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 68, điểm d Khoản 1 Điều 71, Điều 72, Điều 148 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 4; Điều 6; điều 35; Điều 36 và Điều 37 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lư Thị C.

Tuyên bố:

Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1959, nơi cư trú cuối cùng tại số nhà 269/20/12 Vĩnh Viễn, Phường 5, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh là đã chết.

Ngày chết của Nguyễn Ngọc Q được xác định là ngày 02 tháng 01 năm 1988.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Ngọc Q là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Nguyễn Ngọc Q được giải quyết như đối với đã chết. Quan hệ tài sản của ông Nguyễn Ngọc Q được giải quyết như đối với đã chết; tài sản của Nguyễn Ngọc Q được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà Lư Thị C, sinh năm 1939 được miễn nộp tiền lệ phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Hoàn lại cho bà Chanh số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai số 0016758 ngày 13/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Kể từ ngày Tòa án ra quyết định, người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày; Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày./.

Cỡ chữ