vanban.org

Quyết định 163 — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "V/v tuyên bố một người là đã chết"
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Dân sự
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 163/2025/QĐST-VDS Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Tấn Việt

Thư ký phiên họp: Ông Quách Minh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Ngô Hoàng Phương Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 1121/2024/TLST-VDS ngày 24 tháng 12 năm 2024 về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số 05/2025/QĐST-VDS ngày 24 tháng 7 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Đào Đức M, sinh năm: 1999 (vắng mặt – có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: G ấp C, xã B (ấp B, xã L, huyện B (cũ)), Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền:

- Ông Trịnh Ngọc Anh K, sinh năm 1984 (có mặt).

Địa chỉ: I T, xã T (thị trấn T, huyện B (cũ)), Tp ..

Hoặc

- Bà Phạm Bùi Diễm S, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Địa chỉ: I T, xã T (thị trấn T, huyện B (cũ)), Tp ..

2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Văn T, sinh năm: 1962 (vắng mặt – có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: G ấp C, xã B (ấp B, xã L, huyện B (cũ)), Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong quá trình giải quyết hồ sơ việc dân sự, người yêu cầu ông Đào Đức M trình bày:

Ông Đào Đức M là con ruột của bà Tống Ngọc Ánh L, sinh năm 1963 và ông Đào Văn T, sinh năm 1962. Bà L cùng sống chung với ông và ông T tại địa chỉ G ấp C, xã B (ấp B, xã L, huyện B (cũ)), Thành phố Hồ Chí Minh. Vào tháng 08/2019, bà L đã bỏ đi khỏi địa phương cho đến nay đã hơn 05 năm, ông M và gia đình đã tìm mọi cách để liên lạc với bà L và tìm kiếm các thông tin của bà L nhưng không thể liên lạc được và cũng không có bất kỳ thông tin nào liên quan đến bà L.

Nay do cần hoàn tất thủ tục liên quan đến quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của bà L nên ông M yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Tống Ngọc Ánh L, sinh năm 1963, nơi cư trú cuối cùng: G10/24C ấp 30, xã B (ấp B, xã L, huyện B (cũ)), Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đào Văn T trình bày:

Ông là chồng của bà Tống Ngọc Ánh L. Ông Đào Đức M là con ruột của ông và bà L. Ông thống nhất với ý kiến và lời trình bày của ông Đào Đức M. Ngoài ra, ông không có ý kiến nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:

- Về việc tuân theo thủ tục tố tụng: Tại phiên họp, Thẩm phán và Thư ký cũng như đương sự đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc giải quyết việc dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Đào Đức M đề nghị tuyên bố bà Tống Ngọc Ánh L, sinh năm 1963 là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên họp, Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật:

Xét bà Tống Ngọc Ánh L đã đi khỏi địa phương từ tháng 8 năm 2019 đến nay không rõ tin tức. Nay ông Đào Đức M làm đơn yêu cầu là có cơ sở xác định đây là yêu cầu tuyên bố một người đã chết theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ xác nhận của Công an xã L, Huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu: “Bà Tống Ngọc Ánh L, sinh năm 1963 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại G ấp B, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt tại địa phương từ tháng 08/2019 đến nay” và theo lời trình bày của ông Đào Đức Minh xác Đ1 bà Tống Ngọc Ánh L sinh sống cùng gia đình và có nơi cư trú cuối cùng là xã B (xã L, huyện B (cũ)), Thành phố Hồ Chí Minh đã bỏ đi từ tháng 9 năm 2019 đến nay không thấy trở về nhà. Xét người bị yêu cầu tuyên bố đã chết có địa chỉ cư trú cuối cùng tại xã B (xã L, huyện B (cũ)), Thành phố Hồ Chí Minh nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/06/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/06/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[3]. Về tư cách tham gia tố tụng của Tòa án:

Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ có cơ sở xác định ông Đào Đức M là con ruột của bà Tống Ngọc Ánh L. Do đó, ông M có đủ tư cách yêu cầu Tòa giải quyết về việc tuyên bố bà Tống Ngọc Ánh L, sinh năm 1963 là đã chết.

Ông Đào Đức M, ông Đào Văn T có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên căn cứ vào Điều 361, khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt ông M, ông T.

[4]. Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ xác nhận của Công an xã L, Huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 09/01/2025 và ngày 10/02/2025 xác định: “Bà Tống Ngọc Ánh L, sinh năm 1963 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại G ấp B, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt tại địa phương từ tháng 08/2019 đến nay”.

Ngày 04/5/2022, Tòa án nhân dân Huyện Bình Chánh ban hành Quyết định số 03/2025/QĐ-TA về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết. Quyết định này được đăng trên C thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân Thành phố H và được đăng thông báo tìm kiếm trên báo P trong 3 số liên tiếp ngày 17, 18, 19/3/2025 và phát sóng trên Đ2 trong 3 ngày liên tiếp ngày 17, 18, 19/3/2025. Đã hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng thông báo tìm kiếm lần đầu tiên mà bà Tống Ngọc Ánh L vẫn biệt tích, không có tin tức gì.

Căn cứ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015: Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp: “Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống”. Tòa án nhận thấy yêu cầu của ông Đào Đức M xin tuyên bố bà Tống Ngọc Ánh L là đã chết là có cơ sở chấp nhận.

Theo căn cứ vào lời khai tại đơn yêu cầu của ông Đào Đức Minh xác Đ1 bà Tống Ngọc Ánh L đi khỏi địa phương từ tháng 8 năm 2019 và không quay về, biệt tích đến nay. Lời trình bày trên phù hợp với theo kết quả xác minh của Công an xã L, Huyện B đã xác định bà Tống Ngọc Á L bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 8 năm 2019. Như vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án xác định ngày biết được tin tức cuối cùng của bà Tống Ngọc Ánh L là ngày 01 tháng 09 năm 2019. Theo điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 và Điều 148 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án xác định ngày chết của bà Tống Ngọc Ánh L là ngày 02 tháng 9 năm 2024.

Căn cứ theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với đã chết; Quan hệ tài sản của người bị toà án tuyên bố chết được giải quyết như đối với đã chết, tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế”. Do đó quan hệ về nhân thân và quan hệ tài sản của bà Tống Ngọc Ánh L được giải quyết theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Xét đề nghị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở nên Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận.

[6]. Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Ông Đào Đức M phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 367, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 393 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ vào Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71, Điều 72, Điều 148 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Đào Đức M.

Tuyên bố bà Tống Ngọc Ánh L, sinh năm 1963, nơi cư trú cuối cùng tại G ấp C, xã B (ấp B, xã L, huyện B (cũ)), Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Ngày chết của bà Tống Ngọc Á L được xác định là ngày 02 tháng 09 năm 2024.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Tống Ngọc Ánh L là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Tống Ngọc Ánh L được giải quyết như đối với đã chết. Quan hệ tài sản của bà Tống Ngọc Ánh L được giải quyết như đối với đã chết; tài sản của bà Tống Ngọc Ánh L được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Ông Đào Đức M chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí việc dân sự sơ thẩm mà ông M đã nộp theo biên lai số 0051569 ngày 18/12/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông M đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày được giao quyết định hoặc từ ngày quyết định được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ