vanban.org

Quyết định 162/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Chánh H.

Về hôn nhân: Anh Phạm Chánh H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Trúc Hồng H1. Giấy chứng nhận kết hôn số 65 ngày 18.7.2016 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho anh Phạm Chánh H và chị Nguyễn Thị Trúc Hồng H1 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Chánh H.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 162/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30/6/2023
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Văn Bé.

2. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 168/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 03 năm 2023 “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2023/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 412/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Phạm Chánh H, sinh năm 1979; địa chỉ: số B, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Trúc Hồng H1, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Phạm Chánh H trình bày, sau thời gian tự tìm hiểu anh và chị H1 được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 2016 vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang, vợ chồng sống chung hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân sống không tình cảm, không hợp nhau, bất đồng quan điểm, hay cự cải. Nay nhận thấy tình cảm không còn, anh yêu cầu ly hôn với chị H1.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu gia đình, giấy chứng nhận kết hôn số 65 ngày 18.7.2016 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang (bản chính).

Chị Nguyễn Thị Trúc Hồng H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Ngoài các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án, chị D không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Bị đơn vắng mặt không có ý kiến.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến giải quyết vụ án:

Anh Phạm Chánh H, chị Nguyễn Thị Trúc Hồng H1, do tự tìm hiểu, tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M ngày 18/7/2016 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn, do không cùng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên bất hòa không hàn gắn được. Vợ chồng không còn chung sống từ cuối năm 2020 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn nên anh H yêu cầu được ly hôn với chị H1.

Xét thấy, anh H xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường bất hòa dẫn đến ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Mặc khác, kể từ khi anh H yêu cầu ly hôn chị H1 không có ý kiến phản hồi, cho thấy thiện chí hàn gắn hạnh phúc vợ chồng giữa anh H, chị H1 là không có. Anh H xác định không còn tình cảm với chị H1, kiên quyết ly hôn, nếu buộc anh H tiếp tục chung sống với chị H1 sẽ không hạnh phúc nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H đối với chị H1.

Về con chung: Không có, nên không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập đến.

Về nợ chung: Không có yêu cầu giải quyết, nên không đề cập đến.

Căn cứ các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của của anh Phạm Chánh H đối với chị Nguyễn Thị Trúc Hồng H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Anh Phạm Chánh H khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Trúc Hồng H1 cư trú ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị Trúc Hồng H1 đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Anh Phạm Chánh H và chị Nguyễn Thị Trúc Hồng H1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị H1 là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, anh H và chị H1 thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, và không còn sống chung từ cuối năm 2020 cho đến nay. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa anh H và chị H1 là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H với chị H1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Phạm Chánh H xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Phạm Chánh H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Thị Trúc Hồng H1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Chánh H.

1. Về hôn nhân: Anh Phạm Chánh H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Trúc Hồng H1.

Giấy chứng nhận kết hôn số 65 ngày 18.7.2016 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho anh Phạm Chánh H và chị Nguyễn Thị Trúc Hồng H1 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

3. Về tài sản chung: Anh Phạm Chánh H xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Anh Phạm Chánh H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ghi nhận anh Phạm Chánh H xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh H và chị H1 trong thời kỳ hôn nhân thì anh, chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Anh Phạm Chánh H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013384 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 21 tháng 3 năm 2023; Anh Phạm Chánh H đã nộp đủ án phí.

Chị Nguyễn Thị Trúc Hồng H1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

6. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Phạm Chánh H có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của chị Nguyễn Thị Trúc Hồng H1 được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ