vanban.org

Quyết định 162/2019/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn K. Giấy chứng nhận kết hôn số 26/2018, cấp ngày 04/7/2018 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội cấp cho chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn K không còn giá trị pháp lý.

VKSND huyện M; UBND xã H; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn K. Giấy chứng nhận kết hôn số 26/2018, cấp ngày 04/7/2018 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội cấp cho chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn K không còn giá trị pháp lý.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ ĐỨC TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 162/2019/QĐST-HNGĐM, ngày 11 tháng 9 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 259/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2019, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1993. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đội 5, thôn D, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Đào Văn K, sinh năm 1988. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đội 5, thôn D, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 55, 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 03 tháng 9 năm 2019.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 03 tháng 9 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn K. Giấy chứng nhận kết hôn số 26/2018, cấp ngày 04/7/2018 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội cấp cho chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn K không còn giá trị pháp lý. 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: 2.1. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn K đều xác nhận có 01 con chung. Giao cháu Đào Gia H, sinh ngày 16/6/2019 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc có thỏa thuận khác. Xác nhận anh K tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cho chị T số tiền 1.500.000 (Bằng chữ: Một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng cho đến khi cháu H trưởng thành hoặc có thỏa thuận khác. Anh K có quyền đi lại thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. 2.2. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự đều xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. 2.3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn K mỗi người phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T chịu cả phần án phí thay cho anh K nên chị T phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T tự nguyện nộp 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) án phí cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận chị T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 2435 ngày 29/8/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M, Thành phố Hà Nội. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ