- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Khanh và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về căn cứ áp dụng pháp luật:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2023/HSST Ngày: 30-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Huy
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Chính, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Vũ Xuân Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:115/2023/TLST-HS, ngày 17 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:119/2023/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 4 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Dương Văn Kh, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1967
Nơi cư trú: Tổ 04, phường TĐ, thành phố TN, tỉnh TN
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/10; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Dương Văn M và con bà: Mai Thị M (đều đã chết); Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Chưa có vợ con.
- Tiền án, Tiền sự: Không
- Nhân thân: 08
+ Tại bản án số 73/HSST ngày 28/7/1992 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Chấp hành xong án phí ngày 25/02/2008.
+ Tại bản án số 150/HSST ngày 27/5/1995 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Phải chịu 50.000 đồng án phí HSST, hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên không có tài liệu thi hành án về khoản án phí nêu trên.
+ Ngày 23/5/1997 Công an thành phố Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với số tiền 250.000 đồng. Ngày 03/6/1997 nộp phạt xong.
+ Tại bản án số 101/HSST ngày 10/6/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 25/5/2021 được miễn thi hành án phí và tiền phạt.
+ Tại bản án số 50/2005/HSST ngày 15/3/2002 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phí ngày 27/6/2008.
+ Tại bản án số 89/HSST ngày 11/6/2002 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phí ngày 23/5/2008.
+ Tại bản án số 176/2008/HSST ngày 22/9/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phí ngày 13/3/2009.
+ Tại bản án số 379/2015/HSST ngày 30/12/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phí ngày 12/8/2016.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt ).
2. Họ và tên: Phạm Thị L, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1975.
Nơi cư trú: Tổ 02, phường CH, thành phố TN, tỉnh TN
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính:
Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Phạm Tuấn T, sinh năm 1952 và con bà: Phạm Thị M, sinh năm 1949; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Chồng: Hoàng Trung H, sinh năm 1973 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 1994.
- Tiền sự: Không;
- Tiền án: 02
+ Tại bản án số 65/2006/HSST ngày 17/02/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phí ngày 13/7/2011, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/10/2011.
+ Tại bản án số 96/2013/HSST ngày 28/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đến nay chưa chấp hành xong án phí HSST và tiền phạt, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2017.
Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 21/12/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
Bị hại: Cháu Nguyễn Thị Phương L, sinh ngày 23/6/2006 (xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 6, phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Người dại diện theo pháp luật của cháu Linh: Chị Nguyễn Thị Xuyến, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 6, phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1,Anh Nông Văn Hưởng, sinh năm 1985 (có đơn xin xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 5, phường Quang Trung, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
2, Bà Nguyễn Thị Loan, sinh năm 1952 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 10, phường Đồng Quang, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Người làm chứng:
1, Hà Thị Thơm, sinh năm 1958 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 1, phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
2, Cháu Nguyễn Phương Anh, sinh ngày 14/6/2006 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 1, phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Người dại diện theo pháp luật của cháu Phương Anh: Chị Nguyễn Thu Hương, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 1, phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 45 phút ngày 28/10/2022, tổ công tác của Công an thành phố Thái Nguyên phối hợp với Công an phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ “Quỳnh Chi” có địa chỉ tại tổ 01, phường Tân Lập. thành phố Thái Nguyên do bà Hà Thị Thơm, sinh năm 1958, trú tại: Tổ 01, phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên làm chủ. Quá trình kiểm tra, tại phòng nghỉ 101 thuộc tầng 02 của nhà nghỉ “Quỳnh Chi” có Dương Văn Khvà Phạm Thị L, sinh năm 1975, HKTT: Tổ 02, phường Chùa Hang, Thành phố Thái Nguyên. Quá trình kiểm tra thì Kh tự giác giao nộp từ túi quần phía sau bên phải Kh đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, Kh khai nhận đó là ma túy Heroine, do Kh mua mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Kh, niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định.
Ngày 29/10/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Kh có khối lượng là 0,192 gam. Lấy toàn bộ số chất bột màu trắng nêu trên niên phong vào bì ký hiệu K1 để gửi giám định.
Tại kết luận giám định số 1675/KL-KTHS ngày 06/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu K1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,192 gam.
Tại Cơ quan điều tra Dương Văn Khkhai nhận: Kh và Phạm Thị L đều nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, có mối quan hệ tình cảm với nhau. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 28/10/2022, Kh một mình đạp xe đạp từ nhà nghỉ Quỳnh Chi có địa chỉ tại tổ 01, phường Tân lập, thành phố Thái Nguyên đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Việt Bắc và đường Thống nhất, thành phố Thái Nguyên sau đó rẽ trái vào đường Việt Bắc khoảng 100 mét, mục đích để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, Kh gặp và mua của một người đàn ông tên Tuấn (Kh không biết rõ họ tên đầy đủ và địa chỉ của Tuấn ở đâu) 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với số tiền 200.000 đồng. Sau đó Kh cất gói ma túy vừa mua vào túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi đạp xe quay lại nhà nghỉ Quỳnh Chi. Khi Kh vừa lên đến phòng 101 thuộc tầng 02 của nhà nghỉ thì bị tổ công tác của Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Quá trình điều tra còn xác định: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/9/2022 Dương Văn Khđiều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 20L7 – 5437 phía sau chở Phạm Thị L khi đi đến khu vực đèn tín hiệu xanh đỏ ngã tư chợ Đồng Quang thuộc tổ 15, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên thì dừng lại chờ đèn đỏ. Lúc này có cháu Nguyễn Phương Anh, sinh năm 2006, trú tại: Tổ 01, phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29E1 – 744.37, phía sau chở cháu Nguyễn Thị Phương Linh, sinh năm 2006, trú tại: Tổ 06, phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên cùng dừng chờ đèn đỏ, song song chếch phía sau bên trái xe mô tô do Kh điều khiển. Lúc này Phạm Thị L nhìn thấy 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XR màu đen tại ngăn ngoài bên phải chiếc ba lô của cháu Linh đang đeo sau lưng, nên Lan đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại của cháu Linh. Phạm Thị L đã sử dụng chiếc ô gấp đang mang theo, rồi dùng tay phải mở chiếc ô ra để che lấp tầm nhìn của người đi đường, rồi Lan dùng tay trái lấy chiếc điện thoại của cháu Linh đang để trong ngăn ba lô đeo phía sau người, Kh không biết việc Lan trộm cắp điện thoại của cháu Linh. Sau khi đèn tín hiệu chuyển sang màu xanh thì Kh điều khiển xe mô tô đi vào đường Lương Ngọc Quyến hướng đi đảo tròn Mỏ Bạch thành phố Thái Nguyên. Trên đường đi thì Lan nói với Kh vừa trộm cắp được chiếc điện thoại Iphone lúc đang dừng đèn đỏ và rủ Kh tìm cửa hàng điện thoại để bán lấy tiền tiêu xài. Kh đồng ý và điều khiển xe mô tô đến cửa hàng mua bán điện thoại “Xuân Hưởng” có địa chỉ thuộc tổ 05, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên do anh Nông Văn Hưởng, sinh năm 1985, trú tại: Tổ 05, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên làm chủ. Tại đây, Lan đưa chiếc điện thoại cho Kh mang vào quán để bán, còn Lan ngồi trên xe mô tô đợi bên ngoài. Kh bán chiếc điện thoại cho anh Hưởng được số tiền 2.000.000 đồng. Số tiền bán điện thoại có được thì Kh và Lan đã cùng nhau sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Hiện chiếc điện thoại bị trộm cắp nêu trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên đã thu giữ được và trả lại cho bị hại quản lý và sử dụng.
Tại kết luận định giá số 647 ngày 11/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên, kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen, dung lượng 64 GB có trị giá là 5.290.000 đồng.
Vật chứng của vụ án:
- Chiếc điện thoại Iphone XR. Ngày 17/10/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên đã trả lại cho bị hại là cháu Nguyễn Thị Phương Linh là chủ sở hữu hợp pháp quản lý và sử dụng.
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 20L7 – 5437. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nêu trên do anh Chu Văn Tính, sinh năm 1989, trú tại: Xóm Kỳ Linh, xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là người đứng tên đăng ký xe. Khoảng năm 2011 anh Tính đã bán chiếc xe mô tô nêu trên cho một người không quen biết với số tiền 2.500.000 đồng. Dương Văn Khkhai nhận: Khoảng tháng 12/2021 Kh mua chiếc xe mô tô nêu trên của một người không quen biết với số tiền 1.500.000 đồng, đến tháng 10/2022 do cần tiền nên Kh đã bán chiếc xe mô tô nêu trên cho một người không quen biết với số tiền 1.700.000 đồng. Đến nay không thu giữ được chiếc xe mô tô nêu trên.
- 02 bì niêm phong kí hiệu K1, K2 bên trong chứa ma tuý hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu ban đầu; 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu “Việt Hùng” đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe đạp này do bà Nguyễn Thị Loan, sinh năm 1952, trú tại tổ 10, phường Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên là chủ sở hữu hợp pháp. Ngày 24/10/2022 bà Loan cho Kh mượn để làm phương tiện đi lại, khi cho mượn bà Loan không biết việc Kh đã sử dụng chiếc xe nêu trên vào việc đi mua ma túy. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 122/CT-VKSTPTN, ngày 15/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Dương Văn Kh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS; Phạm Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa, các Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Phần luận tội tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 122/CT-VKSNDTP ngày 15/4/2023 đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn Khphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Phạm Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản” .
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Dương Văn Khmức án từ 18 đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 323 BLHS điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Dương Văn Khmức án 12 đến 15 tháng tù
Áp dụng Điều 55 BLHS buộc bị cáo Dương Văn Khchấp hành hình phạt chung cho cả hai tội.
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt Phạm Thị L mức án từ 30-36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong kí hiệu K1, K2 bên trong chứa ma tuý hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu ban đầu.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Loan, sinh năm 1952, trú tại tổ 10, phường Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu “Việt Hùng” đã qua sử dụng.
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, các Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Hồi 21 giờ 45 phút ngày 28/10/2022 tại khu vực tổ 01, phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên, Dương Văn Khcó hành vi tàng trữ trái phép 0,192 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy trên theo Kh khai là mua của người đàn ông tên Tuấn (Kh không biếthọ tên đầy đủ và địa chỉ ở đâu) tại khu vực ngã tư đường Thống Nhất giao với đường Việt Bắc thành phố Thái Nguyên với số tiền là 200.000đ.
Ngoài ra, khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/9/2022 tại khu vực đèn tín hiệu xanh, đỏ ngã tư Đồng Quang thuộc tổ 15, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, Phạm Thị L đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR của cháu Nguyễn Thị Phương Linh có trị giá tài sản là 5.290.000 đồng. Sau đó Dương Văn Khvà Phạm Thị L đã đem chiếc điện thoại do Lan trộm cắp được đến bán cho cửa hàng mua bán điện thoại “Xuân Hưởng” do anh Nông Văn Hưởng làm chủ với số tiền là 2.000.000 đồng. Số tiền bán điện thoại Kh và Lan đã tiêu xài cá nhân hết. .
Hành vi của Dương Văn Khđã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS. Hành vi của bị cáo Phạm Thị L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.
Bản cáo trạng số 122/CT-VKSTPTN ngày 15/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Nội dung Điều 249 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, ....
...
c, Heroine…có khối lượng từ 0,1 gam đếndưới 05 gam”.
Nội dung Điều 323 quy định:
1.Người nào…tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
Nội dung Điều 173 quy định:
1.Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm
…
g, Tái phạm nguy hiểm ”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người, làm phát sinh các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc thực hiện hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Đối với bị cáo Kh có nhân thân rất xấu nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, không chịu rèn luyện tu dưỡng bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà vì nhu cầu bản thân tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là“Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, ngoài ra bị cáo Kh có anh trai là liệt sĩ bố mẹ đẻ được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, hạng nhì nên bị cáo bị cáo Kh được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào theo quy định tại Điều 52 BLHS .
Bị cáo Phạm Thị L có nhân thân xấu phạm tội lần này khi chưa được xóa án tích. Do đó, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là“Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần có mức hình phạt tương xứng, cách ly các bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Mức án mà đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 323 của BLHS, thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên xét thấy các không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:
Đối với số ma túy đã thu giữ, Dương Văn Khkhai mua của 01 người đàn ông tên Tuấn (bị cáo không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ ở đâu) ở khu vực ngã tư đường Thống Nhất giao với đường Việt Bắc thành phố Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.
Đối với bà Nguyễn Thị Loan là người đã cho Kh mượn chiếc xe đạp để đi lại hàng ngày, bà Loan không biết việc Kh đã sử dụng chiếc xe nêu trên vào việc đi mua ma túy. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có căn cứ xử lý đối với bà Loan.
Đối với anh Nông Văn Hưởng là người đã mua chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XR do Phạm Thị L trộm cắp được. Khi mua bán anh Hưởng không biết chiếc điện thoại nêu trên là tài sản trộm cắp. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở xử lý đối với anh Hưởng.
[7].Về trách nhiệm dân sự: Quá trình và tại đơn xin xét xử vắng mặt bị hại là cháu Nguyễn Thị Phương Linh đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.
Đối với số tiền anh Nông Văn Hưởng đã mua điện thoại di động Iphone XR màu đen của các bị cáo với giá 2.000.000 đồng, nhưng anh Hưởng không biết đó là tài sản trộm cắp được mà có, số tiền trên các bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết. Tại quá trình điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt anh Hưởng đề nghị các bị cáo phải bồi thường cho anh số tiền 2.000.000 đồng. Do đó, cần buộc các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh Nông Văn Hưởng số tiền 2.000.000 đồng.
. Vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong kí hiệu K1, K2 bên trong chứa ma tuý hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu .
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Loan, sinh năm 1952, trú tại tổ 10, phường Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 01 chiếc xe đạp màu trắng bạc nhãn hiệu Việt Hùng, đã qua sử dụng.
- Đối với chứng minh nhân dân số 091078074 mang tên Phạm Thị L được kèm theo hồ sơ vụ án xác định là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo tại phiên tòa.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ áp dụng pháp luật:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 323, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Dương Văn Kh.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối vưới bị cáo Phạm Thị L
2. Về tội danh và hình phạt:
2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn Kh phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2.2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Dương Văn Kh21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Căn cứ Điều 55 BLHS buộc bị cáo Dương Văn Khchấp hành hình phạt chung cho cả hai tội làn 33(Ba mươi ba) tháng tú. Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2022.
- Xử phạt bị cáo Phạm Thị L 30 (Ba mươi) Tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2022.
Căn cứ điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo Dương Văn Khvà Phạm Thị L 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Dương Văn Khphải bồi thường cho anh Nông Văn Hưởng số tiền 1.000.000(Một triệu) đồng. Bị cáo Phạm Thị L phải bồi thường cho anh Nông Văn Hưởng số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành chậm thi hành án thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357; Khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu K1, K2 bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Loan, sinh năm 1952, trú tại tổ 10, phường Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 01 chiếc xe đạp màu trắng bạc, giỏ màu trắng, thân xe có dán chữ “Việt Hùng”.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Thị L 01 chứng minh nhân dân số 091078074 cấp ngày 07/8/2019 mang tên Phạm Thị L (đã trả lại tại phiên tòa).
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 316 ngày 05/5/2023 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Dương Văn Khvà Phạm Thị L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Công an thành phố Thái Nguyên; - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Duyên |