vanban.org

Quyết định 160/2022/QĐPT-DS — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 27/05/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sửa Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 01/2022/QĐ-ST ngày 18/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện T.O. Cụ thể:

I. Đình chỉ giải quyết và trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự sơ thẩm đã thụ lý số 01/2021/TLST-DS ngày 04/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện T.O, thành phố Hà Nội về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, giữa: Nguyên đơn: Ông N.Đ.C, sinh năm 1957. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "N.Đ.C - N.V.Đ"
  • Tòa quyết gì? Sửa Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 01/2022/QĐ-ST ngày 18/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện T.O. Cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 160/2022/QĐPT-DS.Ngày 27 tháng 5 năm 2022.

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Trí Cường.

Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng và bà Nguyễn Thị Thúy.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 01/2022/QĐ-ST ngày 18/3/2022 Tòa án nhân dân huyện T.O đã căn cứ các Điều 48, điểm c khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, khoản 1 Điều 218, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự để quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất giữa:

- Nguyên đơn: Ông N.Đ.C, sinh năm 1957.

Địa chỉ cư trú: Thôn A.P, xã C.D, huyện T.O, thành phố Hà Nội, (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông N.Đ.C là luật sư T.X.B – Văn phòng luật sư Bảo Tín Đ.A, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, (có mặt).

- Đồng bị đơn:

1. Ông N.V.Đ, sinh năm 1957.

2. Ông N.V.X, sinh năm 1958.

3. Ông N.V.B, sinh năm 1955.

4. Ông N.V.H, sinh năm 1958.

5. Ông N.V.T, sinh năm 1960.

6. Ông N.V.L, sinh năm 1969.

Cùng địa chỉ cư trú: Thôn A.P, xã C.D, huyện T.O, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền là ông N.V.Đ và ông N.V.X (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: UBND huyện T.O, thành phố Hà Nội, (vắng mặt).

Tại đơn kháng cáo đề ngày 26/3/2022 ông N.Đ.C cho rằng Tòa án nhân dân huyện T.O ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên là phiến diện, thiếu khách quan, không căn cứ vào quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Ông N.Đ.C nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự đòi quyền sử dụng 33 m2 trong tổng số 742 m2 đất tại thửa số 293, tờ bản đồ số 16 tại thôn A.P, xã C.D, huyện T.O, thành phố Hà Nội. Ông N.Đ.C đã được UBND huyện T.O, thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 065415 ngày 17/9/2010. Đồng bị đơn trong vụ án là ông N.V.B, ông N.V.H, ông N.V.T, ông N.V.L, ông Nguyễn Văn Để và ông N.V.X. Lý do ông N.Đ.C khởi kiện đòi quyền sử dụng đất là vì đồng bị đơn đã xây sửa ngôi mộ của dòng họ Nguyễn Văn trong phạm vi 33 m2 đất của ông N.Đ.C.

Đồng bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N.Đ.C vì ngôi mộ của dòng họ Nguyễn Văn có từ lâu đời, có trước khi ông N.Đ.C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thấy rằng: Trước đây ông N.Đ.C đã khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu đồng bị đơn trả tiền 33 m2 đất có ngôi mộ như đã nêu trên. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 21/2019/DS-ST ngày 25/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện T.O đã nhận định: Ngôi mộ của dòng họ Nguyễn Văn tồn tại nhiều năm trên thửa đất 313, tở bản đồ số 16 xã C.D, huyện T.O, thành phố Hà Nội. Khi thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N.Đ.C, UBND huyện T.O đã đo gộp cả thửa đất số 313 có ngôi mộ của dòng họ Nguyễn Văn. Do đó, Tòa án nhân dân huyện T.O đã:

- Bác yêu cầu khởi kiện của ông N.Đ.C đòi dòng họ Nguyễn Văn phải bồi thường 33 m2 tại thửa số 293, tờ bản đồ số 16, xã C.D, huyện T.O, thành phố Hà Nội có trị giá 300.000.000 đồng.

- Kiến nghị UBND huyện T.O thu hồi, điều chỉnh lại ranh giới thửa đất số 293 và thửa đất số 313, tờ bản đồ số 16, xã C.D, huyện T.O, thành phố Hà Nội; điều chỉnh lại diện tích đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng số BB 065415 đã cấp ngày 17/9/2010 cho ông N.Đ.C.

Bản án dân sự sơ thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân huyện T.O không bị kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, yêu cầu khởi kiện của ông N.Đ.C đòi quyền sử dụng 33 m2 đất tại thửa số 293, tờ bản đồ số 16, xã C.D, huyện T.O, thành phố Hà Nội đối với đồng bị đơn là ông N.V.B, ông N.V.H, ông N.V.T, ông N.V.L, ông N.V.Đ và ông N.V.X đã được giải quyết bằng Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2019/DS-ST ngày 25/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện T.O. Bản án này đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, Tòa án nhân dân huyện T.O căn cứ điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là đúng. Tại phiên họp, luật sư T.X.B là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho ông N.Đ.C cũng thừa nhận việc đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị bác kháng cáo của ông N.Đ.C và giữ nguyên quyết định sơ thẩm. Hội đồng xét xử xác định kháng cáo của ông N.Đ.C không cơ sở chấp nhận.

Tuy nhiên, trong vụ án này, ngày 17/3/2021 đồng bị đơn là ông N.V.X và ông N.V.Đ nộp đơn yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng số BB 065415 do UBND huyện T.O cấp ngày 17/9/2010 cho ông N.Đ.C. Tòa án nhân dân huyện T.O đã thực hiện thủ tục thụ lý để giải quyết trong cùng vụ án là không phù hợp vì nội dung này cũng đã được giải quyết tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2019/DS-ST ngày 25/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện T.O. Mặt khác, theo quy định tại Điểu 32 Luật Tố tụng hành chính thì Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy quyết định hành chính của UBND huyện T.O. Tuy nhiên, ngày 15/3/2022 thì đồng bị đơn là ông N.V.X và ông N.V.Đ đã xin rút yêu cầu hành chính nêu trên. Tòa án nhân dân huyện T.O đã nhận định để trả lại tiền tạm ứng án phí cho ông N.V.X và ông N.V.Đ nhưng chưa nêu rõ nội dung đình chỉ yêu cầu khởi kiện. Do đó, cần sửa nội dung quyết định sơ thẩm.

Do sửa Quyết định dân sự sơ thẩm và ông N.Đ.C là người già, có nguyện vọng xin miễn án phí nên không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Từ nhận định trên.

Căn cứ Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Sửa Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 01/2022/QĐ-ST ngày 18/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện T.O. Cụ thể:

I. Đình chỉ giải quyết và trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự sơ thẩm đã thụ lý số 01/2021/TLST-DS ngày 04/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện T.O, thành phố Hà Nội về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, giữa:

- Nguyên đơn: Ông N.Đ.C, sinh năm 1957.

- Đồng bị đơn:

1. Ông N.V.Đ, sinh năm 1957.

2. Ông N.V.X, sinh năm 1958.

3. Ông N.V.B, sinh năm 1955.

4. Ông N.V.H, sinh năm 1958.

5. Ông N.V.T, sinh năm 1960.

6. Ông N.V.L, sinh năm 1969.

Cùng địa chỉ cư trú: Thôn A.P, xã C.D, huyện T.O, thành phố Hà Nội.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: UBND huyện T.O, thành phố Hà Nội.

II. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông N.V.X và ông N.V.Đ đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng số BB 065415 do UBND huyện T.O cấp ngày 17/9/2010 cho ông N.Đ.C.

III. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có quyền khởi kiện lại vụ án nếu việc khởi kiện không có nội dung khác.

IV. Về án phí:

- Ông N.Đ.C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm.

- Trả lại ông N.V.X và ông N.V.Đ mỗi người 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 2441 và số 2442 cùng ngày 22/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.O, thành phố Hà Nội.

Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ban hành (27/5/2022).

T/M HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

Cỡ chữ