vanban.org

Quyết định 16/QĐST-HNGĐ — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Hồ Sỹ M. Xác định anh Hồ Sỹ M; sinh ngày 17/7/1982; số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx là cha đẻ của cháu Hồ Đức Kh, sinh ngày: 06/08/2019 theo giấy chứng sinh số 00006606, quyển số 67 của bệnh viện sản nhi Nghệ An cấp ngày 06/08/2019.

Anh Hồ Sỹ M có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các quyền về lý lịch tư pháp cho cháu Hồ Đức Kh theo quy định của pháp luật. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Hồ Sỹ M yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên được miễn toàn bộ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Anh Hồ Sỹ M yêu cầu xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Hồ Sỹ M. Xác định anh Hồ Sỹ M; sinh ngày 17/7/1982; số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx là cha đẻ của cháu Hồ Đức Kh, sinh ngày: 06/08/2019 theo giấy chứng sinh số 00006606, quyển số 67 của bệnh viện sản nhi Nghệ An cấp ngày 06/08/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/QĐST-HNGĐTP.Vinh, ngày 23 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SỞ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu xác định cha cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Thúy

- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Quang Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Tú – Kiểm sát viên.

Ngày 23/9/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 19/2022/TLST-HNGĐ ngày 10/8/2022 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 10/2022/QĐST-VDS ngày 09/9/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Hồ Sỹ M, sinh năm: 1982; trú tại: khối 16, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An – có mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Cháu Hồ Đức Kh; sinh ngày 06/8/2019; trú tại: khối 16, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Người giám hộ cho cháu Hồ Đức Kh: Bà Đặng Thị Anh Ph; sinh năm 1981; trú tại: khối 16, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An - có mặt.

Bà Đặng Thị Anh Ph; sinh năm 1981; trú tại: khối 16, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An – có mặt

Ông Nguyễn Thanh H; sinh năm 1978; trú tại: thôn L, xã X, huyện Ngh, tỉnh Hà Tĩnh – vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 29/7/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên họp, anh Hồ Sỹ M trình bày: Chị Đặng Thị Anh Ph, sinh năm 1981 có hộ khẩu thường trú tại khối 16, phường H, thành phố Vinh và anh Nguyễn Thanh H sinh năm 1978; trú tại: thôn L, xã X, huyện Nghi, tỉnh Hà Tĩnh là vợ chồng hợp pháp. Tuy nhiên quá trình chung sống không có hạnh phúc nên đã sống ly thân từ năm 2017. Năm 2018 anh có quan hệ tình cảm với chị Đặng Thị Anh Ph và sinh cháu Hồ Đức Kh, sinh ngày 06/8/2019 tại bệnh viện sản nhi Nghệ An. Hiện nay chị Anh Ph và anh Nguyễn Thanh H đã ly hôn theo quyết định số 82/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh và tại quyết định này cũng không xác định cháu Hồ Đức Kh là con chung của anh Nguyễn Thanh H và chị Anh Ph.

Sau khi chị Phương và anh Hly hôn, anh và chị Phương có đi làm thủ tục khai sinh cho cháu Hồ Đức Kh nhưng do cháu Khôi sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp giữa anh Hvà chị Ph nên không khai sinh được. Để đảm bảo các quyền về lý lịch tư pháp cho cháu Hồ Đức Kh anh đã tiến hành giám định ADN. Theo kết quả xét nghiệm ADN ngày 02/7/2020 của Trung tâm xét nghiệm LOCI ADN kết luận: “… người có mẫu ADN ký hiệu Hồ Sỹ M và người có mẫu ADN ký hiệu Hồ Đức Kh có cùng huyết thống cha con”. Nay anh yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Vinh xác định anh Hồ Sỹ M là cha đẻ của cháu Hồ Đức Kh sinh ngày 06/8/2019, để đảm bảo về các quyền về lý lịch tư pháp cho cháu Hồ Đức Kh theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai ngày 24/8/2022 và tại phiên họp chị Đặng Thị Anh Ph trình bày: Năm 2018 chị có quan hệ tình cảm với anh Hồ Sỹ M và có một cháu trai là Hồ Đức Kh, sinh ngày 06/8/2019 tại bệnh viện sản nhi Nghệ An. Ngày 24/8/2020 chị và anh Nguyễn Thanh H đã ly hôn theo quyết định số 82/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh và tại quyết định này cũng không xác định cháu Hồ Đức Kh là con chung của chị và anh H. Sau khi ly hôn chị tiến hành làm thủ tục khai sinh và nhận cha cho cháu Hồ Đức Kh nhưng được UBND phường hướng dẫn là phải có kết quả xét nghiệm ADN và Quyết định của Tòa án công nhận anh Hồ Sỹ M là cha của cháu Hồ Đức Kh. Sau đó chị và anh M đưa cháu Hồ Đức Kh đi xét nghiệm ADN. Theo kết quả xét nghiệm ADN ngày 02/7/2020 của Trung tâm xét nghiệm LOCI ADN kết luận: “… người có mẫu ADN ký hiệu Hồ Sỹ M và người có mẫu ADN ký hiệu Hồ Đức Kh có cùng huyết thống cha con”. Nay để đảm bảo quyền lợi cho con chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Vinh công nhận anh Hồ Sỹ M là cha đẻ của cháu Hồ Đức Kh.

Anh Nguyễn Thanh H vắng mặt tại phiên họp nhưng tại bản tự khai ngày 5/9/2022 anh H trình bày: Anh và chị Đặng Thị Anh Ph trước đây là vợ chồng, tuy nhiên quá trình sống chung phát sinh nhiều mẫu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Anh và chị Anh Ph đã sống ly thân từ năm 2017 và hiện tại đã ly hôn quyết định số 82/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Trong thời gian anh và chị Anh Ph sống ly thân, chị Ph có quan hệ tình cảm với anh Hồ Sỹ M và hai người đã có với nhau một con chung là cháu Hồ Đức Kh sinh ngày 06/08/2019. Mặc dù cháu bé được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp giữa anh và chị Ph nhưng anh và chị Ph đã chấm dứt quan hệ tình cảm từ năm 2017 nên anh khẳng định cháu Hồ Đức Kh, sinh ngày 06/08/2019 không phải là con đẻ của anh. Nay anh Hồ Sỹ M làm đơn yêu cầu Tòa án xác định cháu Hồ Đức Kh sinh ngày 06/8/2019 là con đẻ của anh Hồ Sỹ M, anh hoàn toàn đồng ý và không có ý kiến gì. Do bận công việc không thể tham gia phiên họp được nên anh Nguyễn Thanh H có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh phát biểu quan điểm về thủ tục tố tụng và hướng giải quyết vụ việc:

Về thủ tục: Tòa án nhân dân thành phố Vinh thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền, thực hiện đúng quy định về chuẩn bị xét đơn yêu cầu và thực hiện đúng thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ Điều 89, Điều 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39; Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBNTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp và quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của anh Hồ Sỹ M về việc xác định anh Hồ Sỹ M là cha đẻ của cháu Hồ Đức Kh, sinh ngày 06/8/2019.

Anh Hồ Sỹ M yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên nên được miễn toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh Hồ Sỹ M tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Vinh nhận định:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết việc dân sự:

Anh Hồ Sỹ M có đơn yêu cầu xác định anh Hồ Sỹ M là cha đẻ của cháu Hồ Đức Kh sinh ngày 06/8/2019; trú tại khối 16, phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nên đây là việc dân sự yêu cầu xác định cha cho con được quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Hồ Sỹ M trú tại khối 16, phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh nên Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về tố tụng: Tại phiên họp người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh H vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định giải quyết vắng mặt anh Nguyễn Thanh H.

. Nội dung:

Chị Trần Thị Anh Phương và anh Nguyễn Thanh H trước đây là vợ chồng tuy nhiên quá trình sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn nên đã sống ly thân từ năm 2017. Năm 2018 chị Anh Phương có quan hệ tình cảm với anh Hồ Sỹ M và có con chung với nhau là cháu Hồ Đức Kh, sinh ngày 06/8/2019. Tuy nhiên thời điểm đó chị Trần Thị Anh Phương và anh Nguyễn Thanh H chưa ly hôn nên không xác định được cháu Hồ Đức Kh là con đẻ của anh Hồ Sỹ M. Ngày 24/8/2020 chị Trần Thị Anh Phương và anh Nguyễn Thanh H đã ly hôn theo Quyết định số 82/2020/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Anh Nguyễn Thanh H cũng thừa nhận cháu Hồ Đức Kh không phải là con đẻ của anh.

Ngày 02/7/2020 anh Hồ Sỹ Mạng tiến hành xét ADN và theo kết quả xét nghiệm ADN ngày 02/7/2020 của Trung tâm xét nghiệm Loci ADN kết luận “…người có mẫu ADN ký hiệu Hồ Sỹ M và người có mẫu ADN ký hiệu Hồ Đức Kh có cùng huyết thống cha con”.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định anh Hồ Sỹ M là cha đẻ của cháu Hồ Đức Kh sinh ngày 08/6/2019; trú tại khối 6, phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Trường hợp yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên thì được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBNTVQH. Vì vậy, miễn toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm cho anh Hồ Sỹ M, hoàn trả cho anh Hồ Sỹ M số tiền đã nộp tạm ứng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 89, Điều 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39; Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBNTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp và quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Hồ Sỹ M. Xác định anh Hồ Sỹ M; sinh ngày 17/7/1982; số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx là cha đẻ của cháu Hồ Đức Kh, sinh ngày: 06/08/2019 theo giấy chứng sinh số 00006606, quyển số 67 của bệnh viện sản nhi Nghệ An cấp ngày 06/08/2019.

Anh Hồ Sỹ M có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các quyền về lý lịch tư pháp cho cháu Hồ Đức Kh theo quy định của pháp luật.

2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Hồ Sỹ M yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên được miễn toàn bộ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh Hồ Sỹ M 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo biên lai thu tiền số 0010219 ngày 29/7/2022.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ quyết định được niêm yết, thông báo theo quy định của pháp luật.Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết Định.

4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi án dân sự.

Cỡ chữ