vanban.org

Quyết định 16/2024/QĐ-TA

TAND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 12/08/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn H.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 02 (hai) năm, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được giao quản lý tại cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Vĩnh Phúc. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y có quyền kháng nghị, P… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN Y

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH PHÚC

––––––––––––––––––––––––––––––

–––––––––––––––

Số: 16/2024/QĐ-TA

Y, ngày 12 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH VĨNH PHÚC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Song Lưu.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Việt Anh.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 16/QĐ-TA ngày 05 tháng 8 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Đỗ Văn H, sinh ngày 05/02/1972; sinh trú quán: thôn 6, xã Tr, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 01/12; con bà Nguyễn Thị D và ông Đỗ Văn Ch; tiền án: không; tiền sự: 01, ngày 11/9/2023 bị Ủy ban nhân dân xã Tr quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số 344/QĐ-XPTT; nhân thân: Ngày 22/01/2007 bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính theo quyết định số 02/XPHC về hành vi đánh bạc. Ngày 07/01/2016 bị Toà án nhân dân huyện Y quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết số 01/QĐ-TA với thời hạn 18 tháng. Ngày 18/10/2018 bị Toà án nhân dân thành phố P, Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo bản án số 64/2018/HSST,vắng mặt.

Với sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Chuyên viên phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Y (theo Giấy ủy quyền ngày 12 tháng 8 năm 2024).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y: Bà Trần Thị Yến, Kiểm sát viên

NHẬN THẤY:

Đỗ Văn H có nơi cư trú ổn định tại thôn 6, xã Tr, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc và là đối tượng nghiện ma túy loại Heroine từ năm 2015 đến nay. Ngày 09/7/2024, Công an xã Tr có văn bản số 177/GĐN-CAX đề nghị Trạm y tế xã T xác định tình trạng nghiện ma túy đối với H. Cùng ngày, Đỗ Văn H có đơn đề nghị xác định tình trạng nghiện đối với H. Trạm y tế xã T tiến hành theo dõi để xác định tình trạng nghiện ma túy đối với H. Kết quả, tại Phiếu kết quả ngày 12/7/2024, Trạm y tế xã T kết luận: Đỗ Văn H là người nghiện chất ma túy loại Heroine. Tại Biên bản ghi lời khai, Bản tường trình ngày 09/7/2024 và các biên bản làm việc tiếp theo Đỗ Văn H xác định có nghiện ma tuý loại Heroine, sử dụng bằng phương thức hít ma túy trực tiếp vào cơ thể, tần suất trung bình hai ngày 01 lần, mỗi lần sử dụng khoảng 200.000đồng. Khi không có ma tuý, H cảm thấy mệt mỏi, khó chịu, thèm muốn sử dụng Heroine. Kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế xã T là khách quan. Sau khi có kết quả tình trạng nghiện ma túy, ngày 12/7/2024, Công an xã Tr đã thông báo cho H biết về việc điều trị Methadon hoặc tham gia các chương trình cai nghiện tự nguyện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo. Hết thời hạn nêu trên H đã không đăng ký điều trị Methadon hoặc tham gia các chương trình cai nghiện ma tuý nào. Ngày 22/7/2024, Công an xã Tr làm việc với chính quyền địa phương nơi H cư trú, gia đình H và bản thân H đều xác nhận từ ngày nhận được thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, H không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị Methadone. Cùng ngày Ủy ban nhân dân xã Tr đã lập biên bản vi phạm về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện đối với Đỗ Văn H. Ngày 22/7/2024, Uỷ ban nhân dân xã Tr ra thông báo về việc lập hồ sơ cai nghiện bắt buộc đối với H đồng thời quyết định giao H cho Trung tâm cái nghiện ma tuý tỉnh Vĩnh Phúc quản lý trong thời gian lập hồ sơ. H đã được đọc hồ sơ, nhất trí không có ý kiến gì. Đến ngày 29/7/2024, Ủy ban nhân dân xã Tr có văn bản số 46/ĐN-UBND đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Y xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn H. Ngày 01/8/2024, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Y có văn bản số 16/ĐN-CNBB và chuyển toàn bộ hồ sơ, đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn H theo thẩm quyền.

Tại phiên họp, đại diện phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Y giữ nguyên ý kiến và đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn H với thời hạn từ 22 tháng đến 24 tháng tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã đảm bảo đầy đủ trình tự, thủ tục và đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật phòng, chống ma túy; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ. Đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn H với thời hạn từ 21 tháng đến 24 tháng.

Người bị đề nghị vắng mặt nên không có ý kiến gì. Tuy nhiên trong quá trình lập hồ sơ, H đã trình bày việc vi phạm đăng ký cai nghiện tự nguyện như trên.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, của Kiểm sát viên thấy:

Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng, chống ma túy; Điều 41, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xử lý vi phạm hành chính: Quá trình làm việc H thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của mình, đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. H phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Về nhân thân, ngày 22/01/2007 H bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính theo quyết định số 02/XPHC về hành vi đánh bạc. Ngày 07/01/2016 H bị Toà án nhân dân huyện Y quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết số 01/QĐ-TA, thời hạn 18 tháng, đã chấp hành xong. Ngày 18/10/2018 H bị Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo bản án số 64/2018/HSST, ngày 08/5/2020 H chấp hành xong bản án, đã nộp xong án phí, đã được xóa án tích. Ngày 11/9/2023, H bị Ủy ban nhân dân xã Tr quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số 344/QĐ-XPTT.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và không đi cai nghiện tự nguyện của Đỗ Văn H xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tác hại cho sức khoẻ, thiệt hại về tài sản của đối tượng và gia đình. Hành vi của Đỗ Văn H đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy. Vì vậy, cần thiết pH áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn H theo đề nghị của phòng Lao động -Thương binh và xã hội huyện Y là phù hợp.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, khoản 2 Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 106, Điều 107, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Điều 41, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn H.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 02 (hai) năm, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được giao quản lý tại cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Vĩnh Phúc.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y có quyền kháng nghị, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Y có quyền kiến nghị; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại quyết định này trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Y, cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc và Đỗ Văn H có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ