vanban.org

Quyết định 16/2024/QĐ-TA

TAND huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 13/12/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Khoản 2 điều 9, điều 95, điều 96, điều 103, điều 104 và khoản 2 điều 105 Luật Xử lý vi phạm Hành chính; các Điều 21, 23, 30, 31, 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân…

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông NVA. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "cai nghiệp bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Khoản 2 điều 9, điều 95, điều 96, điều 103, điều 104 và khoản 2 điều 105 Luật Xử lý vi phạm Hành chính; các Điều 21, 23, 30, 31, 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân…
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÚI THÀNH
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:16/2024/QĐ-TANúi Thành, ngày 13 tháng 12 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Xuân Thuỳ .

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Huỳnh Lan Vi.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Núi Thành tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 16/QĐST-XLHC ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với:

Họ và tên: NVA; Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 05 tháng 10 năm 1993;

CCCD số: 049093015144 nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH.

Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Nơi cư trú: Thôn M, xã X, huyện N, tỉnh Q.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ đào tạo: 08/12.

Con ông NVT, sinh năm: 1970, trú tại: Thôn M, xã X, huyện N, tỉnh Q và bà Ngô Thị Th (chết),

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 31/7/2023, Toà án nhân dân huyện Núi Thành ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với NVA. Chấp hành xong ngày 10/5/2024.

Ông NVA vắng mặt tại phiên họp không có lý do.

Có sự tham gia của:

- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Anh Đức, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành: Bà Bùi Dạ Quyên – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

NVA đã bị Tòa án nhân dân huyện Núi Thành áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng và đã chấp hành xong quyết định ngày 10/5/2024. Ngày 20/12/2023 UBND xã X, huyện Núi Thành ban hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với NVA từ ngày 15/5/2024 cho đến hết ngày 15/5/2026. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện Công an xã X phát hiện NVA có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà thuộc thôn Tam Mỹ, xã X, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Kết quả xác định tình trạng nghiện ngày 20/11/2024 của Trung tâm y tế huyện Núi Thành đối với NVA xác định: nghiện ma túy, loại Morphine. Vì vậy, Uỷ ban nhân dân xã X tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định tại khoản 4, điều 32, chương V, Luật phòng chống ma túy để làm căn cứ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với NVA.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Núi Thành vẫn giữ nguyên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Núi Thành xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với NVA theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành: Hồ sơ đề nghị của xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với NVA được lập đầy đủ, đúng trình tự , thủ tục theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Tòa án nhân dân đã tiến hành thụ lý hồ sơ, ra Quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp tục theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. NVA trong thời gian quản lý sau cai nghiện mà tái nghiện theo quy định tại khoản 4, điều 32, chương V, Luật phòng chống ma túy. Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã Hội huyện Núi Thành, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông NVA từ 18 (mười tám) đến 24 (hai bốn) tháng.

Theo như biên bản lấy lời khai tại hồ sơ: NVA thừa nhận bản thân nghiện ma túy đã từng bị Tòa án áp dụng diện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng sau khi hòa nhập cộng đồng vẫn không bỏ được ma túy. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện tại địa phương vẫn tiếp tục sử dụng ma túy và bị phát hiện.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ việc; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Phòng Lao động- Thương binh và xã hội huyện Núi Thành; Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành và người bị đề nghị;

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Núi Thành đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với ông NVA đầy đủ và hợp lệ theo đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo về thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tính chất, mức độ hành vi vi phạm hành chính: NVA đã bị Tòa án nhân dân huyện Núi Thành áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng và đã chấp hành xong Quyết định. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện NVA tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả xác định tình trạng nghiện ngày 20/11/2024 của Trung tâm y tế huyện Núi Thành đối với NVA xác định: nghiện ma túy, loại Morphine. Hành vi của Anh vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định tại khoản 4, điều 32, chương V, Luật phòng chống ma túy.

Ý kiến của đại diện Phòng Lao động- Thương binh và xã hội huyện Núi Thành, Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành tại phiên họp phù hợp với các quy định tại Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Trong quá trình lập hồ sơ NVA đã nhận thức được tác hại của ma túy, tích cực cai nghiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên NVA đã từng bị Tòa án áp dụng diện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng trong thời gian quản lý sau cai nghiện vẫn tái nghiện nên cần áp dụng thời gian dài để đảm bảo cai nghiện ma túy thành công.

Từ những nhận định trên, xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Núi Thành về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông NVA là phù hợp với các quy định tại Điều 95, 96, 103, 104, 105, khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 3; Điều 22 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Khoản 2 điều 9, điều 95, điều 96, điều 103, điều 104 và khoản 2 điều 105 Luật Xử lý vi phạm Hành chính; các Điều 21, 23, 30, 31, 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông NVA.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng.

3. Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành; Phòng Lao động Thương binh và Xã Hội huyện Núi Thành có quyền kháng nghị, kiến nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc, ông NVA có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (13/12/2024).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Núi Thành; Công an huyện Núi Thành; Cơ sở cai nghiện ma túy Quảng Nam có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ