- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 16/2023/QĐST-VDS | Bến Cát, ngày 28 tháng 9 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Kiều Oanh - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 172/TLST-VDS ngày 19 tháng 4 năm 2023 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 88/2023/QĐST-VDS ngày 18 tháng 9 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1946; địa chỉ thường trú: Số XB đường X18, khu phố X4, phường LĐ, Thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt có Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thanh P, sinh năm 1967; địa chỉ thường trú: Số A TTNV, khu phố X3, phường LT, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt có Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Thành S, sinh năm 1968; địa chỉ thường trú: Số B đường X18, khu phố X4, phường LĐ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt có Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1972; địa chỉ thường trú: Số X24 LTX, khu phố X3, phường LĐ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt có Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Theo Đơn yêu cầu tuyên b m t người đã chết đề ngày 23/5/2022, người yêu cầu bà Nguyễn Thị H trình bày:
Ông T và bà H có mối quan hệ vợ chồng theo Giấy chứng thư hôn thú số 58 ngày 31/12/1964 tại Uỷ ban nhân dân xã TL, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Ông T và bà H có 03 người con chung gồm: Bà Nguyễn Thanh P, sinh năm 1967; ông Nguyễn Thành S, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1972. Trước năm 1975, ông T có tham gia chiến tranh. Vào khoảng tháng 3/1975, gia đình bà H có nhận được thông tin ông T đã chết tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ thời điểm tháng 3/1975 đến nay, gia đình không có tin tức gì của ông T. Trước đây, tại đơn yêu cầu bà H xác định địa chỉ cuối cùng trước khi chết ông T, bà H khai theo hồ sơ khai sinh của các con là xã PL, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định (nay là xã PL, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh). Tuy nhiên, quá trình Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xác minh thì Uỷ ban nhân dân xã AT xác định ông T lúc nhỏ sống cùng với gia đình tại ấp RB, xã AT, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Do đó, xác định lại nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích của ông T là ấp RB, xã AT, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Gia đình đã đăng báo tìm kiếm ông T trên Báo Thanh Niên số 137 ngày 17/5/2022. Nhưng đến nay vẫn không có tin tức xác thực của ông T là còn sống. Do đó, nay bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T đã chết để bà H thực hiện thủ tục khai tử cho ông T theo quy định.
* Ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thanh P, ông Nguyễn Thành S và bà Nguyễn Thanh T trình bày: Thống nhất với phần trình bày của người yêu cầu bà H cũng như yêu cầu của bà H về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T đã chết.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý đến ngày mở phiên họp, Thẩm phán và thư ký được phân công đã tiến hành tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Ông Nguyễn Văn T từ năm 1975 cho đến nay không có tin tức xác thực là còn sống. Do đó, đơn yêu cầu của bà H là có căn cứ. Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của bà H về việc tuyên bố ông Nguyễn Văn T đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân nhân dân thị xã Bến Cát nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Văn T có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích là ấp RB, xã AT, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Bà Nguyễn Thị H là vợ của ông T, có Đơn yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn T đã chết nên vụ việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” đối với ông Nguyễn Văn T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 4 Điều 27, khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người yêu cầu bà Nguyễn Thị H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thanh P, ông Nguyễn Thành S và bà Nguyễn Thanh T có đơn xin giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tham gia tố tụng. Do đó, Hội đồng giải quyết việc dân sự giải quyết vắng mặt bà H, bà P, ông S và bà T theo quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H có 03 người con chung gồm: Bà Nguyễn Thanh P, sinh năm 1967; ông Nguyễn Thành S, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1972. Ngoài ra, ông T và bà H không có người con riêng hay con nuôi nào khác. Quá trình giải quyết việc dân sự, bà H và các con bà P, ông S và bà T thống trình bày là khoảng tháng 3/1975, gia đình bà H có nhận được thông tin ông T đã chết do tham gia chiến tranh tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ thời điểm tháng 3/1975 đến nay, không có tin tức xác thực ông T là còn sống và nơi cư trú cuối cùng trước khi ông T biệt tích là ấp RB, xã AT, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Tại Biên bản xác minh ngày 11/5/2023, Công an xã AT cung cấp thông tin cho Toà án như sau: “Ông T lúc nhỏ sống với cha mẹ tại ấp Rạch Bắp, xã AT, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Trước năm 1975, ông T có thời gian đi làm mướn tại xã TL, tổng Thuận Lợi, quận Đôn Luận, tỉnh Phước Long (nay là xã TL, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước). Từ ngày 10/3/1975, ông T không còn sinh sống tại địa phương”. Tại Quyết định số 02/2023/QĐ-TA ngày 09/5/2023, Toà án nhân dân thị xã Bến Cát đã thông báo tìm kiếm ông T trên các phương tiện thông tin đại chúng cụ thể: Đăng thông báo tìm kiếm trên Báo Công lý trong 03 số 39, 40 và 41 ra các ngày 17, 19 và 24/5/2023; trên Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh trong 03 ngày 22, 23 và 24/5/2023 và trên Cổng thông tin điện tử của Toà án. Đến nay đã quá 04 tháng kể từ ngày đăng thông báo tìm kiếm lần đầu, nhưng ông T vẫn không có liên hệ với Toà án cũng như gia đình ông T. Xét đơn yêu cầu của bà H thấy rằng: Tại điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự quy định: “1. Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan có thể yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên b m t người là đã chết trong trường hợp sau đây:…d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn s ng; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của B luật này”. Ông T bỏ đi biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Do đó, đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà H đối với ông T là có căn cứ nên chấp nhận.
[2.2] Xác định ngày chết của ông Nguyễn Văn T: Căn cứ khoản 1 Điều 68 và điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ngày 10/3/1975 được xác định là thời điểm biết được tin tức cuối cùng của ông Nguyễn Văn T, ngày chết của ông T được xác định là ngày kế tiếp sau 05 năm biệt tích và không có tin tức xác thực là còn sống nên Toà án xác định ngày chết của ông T là ngày 11/3/1980.
Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Dân sự, quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Nguyễn Văn T được giải quyết như đối với người đã chết; quan hệ tài sản của ông Nguyễn Văn T được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Nguyễn Văn T được giải quyết theo quy định pháp luật về thừa kế.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp quan điểm giải quyết việc dân sự đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của bà H là phù hợp.
Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị H được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi.
Chi phí cho việc đăng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố đã chết: Người yêu cầu bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các khoản 1 Điều 68, Điều 71 và 72 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 27, 35, 39, 149, 361, 367, 369, 370, 371, 391, 392 và 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; Điều 15; Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”.
Tuyên bố Nguyễn Văn T, sinh năm 1940; nơi cư trú cuối cùng: Ấp RB, xã AT, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã chết kể từ ngày 11/3/1980.
Kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật, quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Nguyễn Văn T được giải quyết như đối với người đã chết; quan hệ tài sản của ông Nguyễn Văn T được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Nguyễn Văn T được giải quyết theo quy định pháp luật về thừa kế.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị H được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
3. Chi phí tố tụng khác: Chi phí cho việc đăng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố đã chết, do người yêu cầu bà Nguyễn Thị H chịu và đã nộp xong.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được thông báo, niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - UBND xã AT, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Kiều Oanh |