vanban.org

Quyết định 16/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 04/05/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Nguyễn Thị T.

Tuyên bố ông Vũ Văn Q, sinh năm 1950; nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ: 82/5, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đ, là đã chết. 1. Ngày chết của ông Vũ Văn Q là ngày 01/01/2007. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "TÔN - QUANG"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Số: 16/2023/QĐST-VDS
Biên Hòa, ngày 04 tháng 5 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Thị Diệp.

Thư ký phiên họp: Bà Ngô Thị Thuỳ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên họp: Ông Phạm Huy Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 284/2022/TLST-VDS ngày 13 tháng 5 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 422/2023/QĐST-VDS ngày 27 tháng 3 năm 2023 và Thông báo dời phiên họp ngày 12 tháng 4 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1951;

Địa chỉ thường trú: Số nhà 82/5, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh

Đ.

(Bà T có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1951 và ông Vũ Văn Q, sinh năm 1950, kết hôn vào năm 1973. Ông bà sinh sống với nhau tại phường T, thành phố B. Vào khoảng năm 1998, ông Q bị bệnh tâm thần, hay bỏ nhà đi lang thang nên được gia đình đưa vào Trung tâm Xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý. Đến ngày 10/5/2004, Trung tâm xã hội thuộc Sở Lao động thương binh và Xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ra Quyết định số 04/QĐ-TTXH ngày 10/5/2004 về việc đưa ông Q trở về gia đình tại địa chỉ số nhà 82/5, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đ. Từ khi trở về nhà, ông Q vẫn không tỉnh táo và thường xuyên bỏ nhà đi lang thang. Đến năm 2006, ông Q biệt tích, không trở về với gia đình từ đó đến nay mặc dù bà và các con tìm mọi cách để tìm kiếm ông Q, cụ thể đã đăng báo tìm kiếm, gửi thư đến chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” của Đài truyền hình Việt Nam nhưng vẫn không có tin tức gì.

Vì vậy, bà T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên bố ông Vũ Văn Q, sinh năm 1950, nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 82/5, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đ, đã chết để làm thủ tục nhà đất cũng như thủ tục hành chính cho các con.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về việc giải quyết việc dân sự như sau:

Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc tuyên bố ông Vũ Văn Q đã chết; Về lệ phí: bà T được miễn tiền lệ phí việc dân sự về trường hợp người cao tuổi theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố ông Vũ Văn Q đã chết. Ông Q có nơi cư trú cuối cùng tại số nhà 82/5, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đ nên căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu của bà Nguyễn Thị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Về quyền yêu cầu:

Theo Chứng thư hôn thú của xã Hố Nai, Quận Đức Tu, huyện Trảng Bom, do Việt Nam Cộng Hoà tỉnh Biên Hoà cấp vào năm 1973, thể hiện bà Nguyễn Thị T và ông Vũ Văn Q là vợ chồng hợp pháp. Do đó, bà Nguyễn Thị T có quyền yêu

Về tài liệu chứng cứ:

Bà Tôn cung cấp kèm theo đơn là Giấy xác nhận của Công an phường Tân Hoà, xác nhận “ông Vũ Văn Q, sinh năm 1950 có hộ khẩu thường trú tại địa phương, bỏ đi khỏi nơi cư trú từ năm 2006 đến nay, không rõ tin tức”, Xác nhận của hàng xóm về việc ông Q bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2006, Quyết định của Trung tâm Xã hội thuộc Sở Lao động – Thương binh Xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc bàn giao ông Q cho gia đình quản lý ngày 10/5/2004.

Trong quá trình chuẩn bị xét đơn yêu cầu của bà T, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với ông Vũ Văn Q trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật (Quyết định số 351/2022/QĐ-TA ngày 24/5/2022).

Cụ thể: Từ ngày 18, 22 và 25/11/2022, thông tin tìm kiếm ông Q được đăng trên báo Trung ương (Báo Công lý) trong ba số liên tiếp (số 92 ngày 18/11/2022; số 93 ngày 22/11/2022 và số 94 ngày 25/11/2022) và được phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam trong ba ngày liên tiếp từ ngày 21/11/2022 đến ngày 23/11/2022 theo quy định tại Điều 384, 385 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đến nay đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm theo quy định tại khoản 2 Điều 388 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng vẫn không có tin tức xác thực là ông Vũ Văn Q còn sống hay đã chết.

Từ những căn cứ trên, xét thấy ông Vũ Văn Q đã biệt tích 05 năm liền trở lên, mặc dù Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực là ông Q còn sống. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015, xét yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Nguyễn Thị T là có căn cứ chấp nhận. Cần tuyên bố ông Vũ Văn Q là đã chết.

Về việc xác định ngày chết của ông Q: Do không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng của ông Vũ Văn Q, nên ngày chết được tính là ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng, theo quy định khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Vũ Văn Q được giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Về lệ phí: bà T được miễn tiền lệ phí việc dân sự về trường hợp người cao tuổi theo quy định pháp luật.

Xét thấy, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phát biểu tại phiên họp phù hợp với nhận định nêu trên, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khỏan 4 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, 369, 370, 371, 372, 391, 391, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 68; Điều 71; Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Nguyễn Thị T.

2. Tuyên bố ông Vũ Văn Q, sinh năm 1950; nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ: 82/5, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đ, là đã chết.

2.1. Ngày chết của ông Vũ Văn Q là ngày 01/01/2007.

2.2. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Vũ Văn Q là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Vũ Văn Q được giải quyết như đối với người đã chết.

2.3. Quan hệ tài sản của ông Vũ Văn Q được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Vũ Văn Q được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T được miễn lệ phí việc dân sự về trường hợp người cao tuổi theo quy định pháp luật.

4. Bà Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Ông Vũ Văn Q được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày quyết định này được niêm yết theo quy định của pháp luật.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ