- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Toàn - Thái"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Huy T về việc: “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” đối với bà Trần Thị T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 16/2023/QĐST-DS | Long Thành, ngày 01 tháng 6 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc An.
Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Linh Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên họp: Ông Lê Viết Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 80/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 4 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số 898/2023/QĐST- DS ngày ngày 18 tháng 5 năm 2023 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Lê Huy T, sinh năm: 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: Căn L14, khu dân cư Park R, đường B, phường P, thành phố T, thành phố H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị T, sinh năm 1952 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 302 đường T, tổ 04, khu 12, xã L, huyện L, tỉnh Đ.
+ Ông Lê Huy T, sinh năm 1951 (có mặt).
Địa chỉ: Số 302 đường T1, tổ 04, khu 12, xã L1, huyện L1, tỉnh Đ1.
+ Chị Lê Thị Thu G, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 64/D15, khu dân cư River P, đường V, khu phố 6, phường P, thành phố T, thành phố H.
+ Chị Lê Thị Thu V, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 302 đường T2, tổ 04, khu 12, xã L2, huyện L2, tỉnh Đ2.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 31/3/2023 và lời trình bày của anh Lê Huy T trong quá trình giải quyết việc dân sự:
Bà Trần Thị T và ông Lê Huy T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1979 cho đến nay, không đăng ký kết hôn và hiện có các con chung Lê Thị Thu G, Lê Thị Thu V và Lê Huy T. Đầu năm 2018, bà T phát bệnh có biểu hiện vận động chậm chạp, không tự chăm sóc bản thân được, có hiện tượng mất trí nhớ. Gia đình đã chở bà T khám, chữa bệnh nhiều nơi, tuy nhiên, đến nay bệnh tình của bà T không giảm, bà không còn khả năng chăm sóc bản thân và được chồng và các con thay phiên nhau chăm sóc. Ngày 28/3/2023 gia đình đưa bà T đi khám sức khỏe tâm thần và được Viện pháp y tâm thân trung ương Biên Hòa kết luận: Mất trí trong bệnh Alzheimer, khởi phát muộn (F00.1 – ICD 10). Nay anh yêu cầu Tòa án tuyên bố bà T mất năng lực hành vi dân sự để bổ túc các hồ sơ phát sinh liên quan sau này. Ngoài ra anh không yêu cầu gì khác và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Thu G, chị Lê Thị Thu V: Thống nhất với lời trình bày của anh T, yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị T mất năng lực hành vi dân sự, ngoài ra không có ý kiến gì khác và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Huy T trình bày: Ông là chồng của bà Trần Thị T, ông không yêu cầu Tòa án tuyên bố tình trạng bệnh tật của vợ ông như yêu cầu của anh T, bà T bị bệnh thần kinh đã nhiều năm nay nhân dân trong xã, bạn bè, đồng nghiệp ai cũng biết tình trạng bệnh tật của bà T. Hiện nay, bà T không vi phạm pháp luật nên việc nhờ Tòa án tuyên bố tình trạng bệnh tật của vợ ông là không cần thiết, là sự xúc phạm đến quyền riêng tư của vợ ông và cá nhân ông, là người còn đầy đủ năng lực hành vi dân sự, thay mặt cho vợ ông, ông bác bỏ yêu cầu này. Những người có tên trong giấy triệu tập ngoài vợ chồng ông thì những người còn lại là con của ông bà nhưng ông tuyên bố từ mặt các con, sau phiên tòa những người này không còn là con ông nữa. Việc sử dụng tài sản của vợ chồng ông hiện nay hay sau này đều phải được tuân thủ theo pháp luật, thực hiện theo di chúc gửi tại văn phòng luật sư và không liên quan đến những người này. Sau phiên tòa, ông không tham gia tranh tụng ở tất cả mọi thời điểm về tất cả mọi chuyện nội bộ của gia đình ông với bất cứ ai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đề nghị:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 321/KL-VPYTW ngày 16/5/2023 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa kết luận: Hiện nay: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015 đề nghị chấp nhận yêu cầu của anh Lê Huy T, tuyên bố bà Trần Thị T mất năng lực hành vi dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Long Thành nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Lê Huy T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Thu G, chị Lê Thị Thu V có đơn xin vắng mặt nên căn cứ vào Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt họ.
Về nội dung:
Anh T trình bày bà T phát bệnh có biểu hiện vận động chậm chạp, không tự chăm sóc bản thân được, có hiện tượng mất trí nhớ, bà không còn khả năng chăm sóc bản thân. Gia đình có đưa đi khám sức khỏe tâm thần và bệnh viện chẩn đoán bà T mất trí trong bệnh Alzheimer, khởi phát muộn (F00.1 – ICD 10).
Nay anh T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà T là người mất năng lực hành vi dân sự để gia đình anh bổ túc các hồ sơ phát sinh liên quan sau này, ngoài ra anh T không có yêu cầu gì khác.
Đối với ông T có ý kiến xác định bà T bệnh thần kinh nhiều năm không có khả năng tự chăm sóc bản thân và không có năng lực hành vi dân sự nhưng ông không đồng ý với yêu cầu của anh T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà T mất năng lực hành vi dân sự do ông không có yêu cầu để làm gì.
Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định về năng lực hành vi dân sự đối với bà Trần Thị T. Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 321/KL-VPYTW ngày 16/5/2023 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa kết luận:
- Về y học: Hiện nay: Đương sự bị bệnh Mất trí trong bệnh Alzheimer, khởi phát muộn (F00.1 – ICD 10).
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bà Trần Thị T mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Xét thấy, yêu cầu của anh Lê Huy T là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận yêu cầu của anh Lê Huy T về việc: “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” đối với bà Trần Thị T.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là phù hợp với nhận định nên ghi nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Lê Huy T phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều 367, Điều 372, Điều 376, Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Huy T về việc: “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” đối với bà Trần Thị T.
Tuyên bố bà Trần Thị T, sinh năm 1952; Địa chỉ: Số 302 đường T, tổ 04, khu 12, xã L, huyện L, tỉnh Đ bị mất năng lực hành vi dân sự.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Lê Huy T phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số 0009255 ngày 03/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Anh T đã nộp đủ lệ phí.
3. Ông Lê Huy T được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND H.Long Thành; - CCTHADS H.Long Thành; - Đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Ngọc An |