vanban.org

Quyết định 16/2023/QĐ-TA

TAND huyện Tri Tôn , tỉnh An Giang Tuyên án 21/04/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chau Tưng.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Chau T là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chau Tưng.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRI TÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 16/2023/QĐ-TA
Tri Tôn, ngày 21 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Sơn Thị Thúy Liễu.

2. Thư ký phiên họp: Ông Trần Khoa Trung.

Ngày 21 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số: 32/QĐ-TA ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Chau T, sinh ngày 19/9/2001; giới tính: Nam; số CCCD: 089201006041; ngày cấp: 20/3/2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội. Dân tộc: Khmer. Nghề nghiệp: Không. Tôn giáo: Đạo phật. Trình độ văn hóa: 06/12. Quê quán: Thị trấn Cô Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khóm S, thị trấn C huyện TT, tỉnh An Giang. Tiền án, tiền sự: Không. Con ông Chau Ư và bà Néang S. (có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Cơ quan đề nghị: Ông Tiêu Phú Long – Phó Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/4/2023).

2. Đại diện Viện kiểm sát Viện kiểm sát: Bà Võ Thị Ngọc Diễm – Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Người phiên dịch tiếng khmer: Bà Huỳnh Thị Kim Hía – Trưởng khóm 2, thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

NHẬN THẤY:

Chau T là người nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine và có nơi cư trú ổn định. Vào ngày 29/12/2022 Chau T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà. Đến ngày 30/12/2022 bị Công an thị trấn C, huyện TT mời lên xét nghiệm ma túy, kết quả là dương tính. Ngày 03/01/2023 Công an thị trấn C ban hành Đề nghị số 02/ĐN-CATT gửi Chủ tịch UBND thị trấn C, về việc đề nghị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại gia đình, cộng đồng. Ngày 06/01/2023, Chủ tịch UBND thị trấn C ban hành Quyết định số 02/QĐ-UBND về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với Chau T, thời gian cai nghiện là 01 năm kể từ ngày 06/01/2023.

Trong thời gian bị quản lý, đến ngày 16/3/2023 Công an thị trấn C qua tin báo quần chúng nhân dân Chau T có dấu hiệu nghi vấn nên mời Chau T để xét nghiệm ma túy, kết quả là dương tính với chất ma túy. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày 16/3/2023 Chau T phải đến UBND thị trấn C để đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, nhưng Chau T không thực hiện.

Ngày 05/4/2023 Chủ tịch UBND thị trấn C ban hành đề nghị số 02/ĐN-UBND về việc xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại Đề nghị số: 43/ĐN-PLĐTBXH ngày 11/4/2023 của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện TT cũng như tại phiên họp, người đại diện theo ủy quyền của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện TT giữ nguyên ý kiến đề nghị Toà án áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa người nghiện Chau T có lý lịch nêu trên vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian áp dụng là 18 tháng.

Tại phiên họp, người bị đề nghị Chau T thừa nhận nhiều lần thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine. Quá trình làm việc người bị đề nghị thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như trong hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện TT. Đồng thời Chau T không có ý kiến đối với việc lập hồ sơ của các cơ quan đề nghị đưa Chau T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên họp có ý kiến:

Về trình tự thủ tục từ khi thụ lý vụ việc đến khi mở phiên họp. Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp đã thực hiện đúng theo luật định tại các quy định của pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về thủ tục hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ngườ bị đề nghị Chau T về cơ bản đúng theo quy định tại khoản 56 Điều 1 Luật sửa đổi, bồ sung một số điều luật của Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 13/11/2020; khoản 1 Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Vì vậy, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo hướng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Chua T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; sau khi nghe ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện TT, các nội dung trình bày của người bị đề nghị và ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT. Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét thấy:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Về trình tự thủ tục lập hồ sơ đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện Chau T có lý lịch nêu trên, có nơi cư trú ổn định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện TT đã thực hiện đúng trình tự, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại khoản 56 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Điều 40, 41, 42 và 43 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP của Chính Phủ. Hồ sơ đề nghị có đầy đủ tài liệu, giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP của Chính Phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi: Quá trình lập hồ sơ đề nghị, người bị đề nghị thừa nhận đã nhiều lần thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy Methamphetamine. Các nội dung thừa nhận của người bị đề nghị Chau T là phù hợp với biên bản vi phạm hành chính và biên bản xét nghiệm chất ma túy của Trạm y tế thị trấn C, cũng như các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn có đủ cơ sở kết luận Chau T là người nghiện ma túy, loại ma túy Methamphetamine và là người có cư trú ổn định. Theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021 và khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020 thì Chau Tưng thuộc trường hợp phải đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, việc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện TT lập hồ sơ đưa Chau T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng người, đúng đối tượng.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn là có cơ sở và phù hợp nên ghi nhận.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người bị đề nghị: Chau Tưng không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo quy định tại Điều 9, 10 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người bị đề nghị áp dụng: Xét thấy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Chau T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian nhằm giúp đỡ Chau T có thời gian cắt cơn, giải độc, cai nghiện ma túy, tạo điều kiện để được lao động, học tập, giáo dục pháp luật, hướng nghiệp, dạy nghề, sinh hoạt lành mạnh, sớm tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội. Tòa án nhân dân huyện TT căn cứ vào khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 4 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy năm 2021 chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện TT đưa Chau T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chau Tưng.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Chau T là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.

3. Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Tri Tôn có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định. Chau Tưng có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định (ngày 21/4/2023).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị mà không có khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Tri Tôn; Công an huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang có trách nhiệm thi hành quyết định này./.

Cỡ chữ