vanban.org

Quyết định 16/2023/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND huyện KBang, tỉnh Gia Lai Tuyên án 09/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39; Điều 227; Điều 232; khoản 1 Điều 235; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

luật Dân sự năm 2015; thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Chính sách xã hội"
  • Tòa quyết gì? 39; Điều 227; Điều 232; khoản 1 Điều 235; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…; Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KBANG - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/DS-ST
Ngày: 09-8-2023
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại
do sức khỏe bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG-TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Xuân Tư.

2. Bà Võ Thị Cảnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Sen - Thư ký Toà án nhân dân

huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Thu Thuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 09/8/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kbang, Toà án nhân dân

huyện Kbang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 67/2022/TLST-DS ngày 12/12/2022 về “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-DS ngày 12/6/2023; Thông báo dời ngày giờ xét xử vụ án Dân sự số 06/2023/TB-TA và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2023/QĐST-DS ngày 01/8/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Quang T, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Thôn 1, xã Đ, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Quang T là bà Hà Thị

T, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

(Giấy ủy quyền ngày 26/11/2022 được chứng thực ngày 02/12/2022 của Uỷ

ban nhân dân thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai).

- Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Thôn 1, xã Đ, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị T, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Thôn 1, xã Đ, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

Bà T, ông T và bà T đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, tài liệu có trong hồ sơ, người đại diện

theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Lê Quang T là bà Hà Thị T trình bày:

Vào khoảng 14 giờ ngày 15/11/2021 ông Lê Quang T điều khiển xe mô tô

81H9-8191 chở theo vợ là bà Đặng Thị T đi đến thị trấn Kbang để làm hồ sơ vay vốn tại Ngân hàng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày khi ông T đang đi trên đường tỉnh lộ 669B đường hướng Kbang đi thị xã An Khê để về nhà, khi đi đến ngã tư đường tỉnh lộ 669B và đường làng thuộc Làng Lợt, xã ĐăkHlơ, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai, xe mô tô của ông T điều khiển lưu thông đúng phần đường bên phải của mình, bất ngờ xe máy kéo nhỏ không có đèn chiếu sáng do ông Lê Văn T điều khiển đi từ đường nhánh ra (theo chiều từ bên lề đường trái sang lề đường phải). Khi phát hiện ra xe máy kéo ông T đã đánh tay lái qua phải theo chiều đi với mục đích tránh xe máy kéo đang chạy qua đường, do khoảng cách gần nên chân trái ông T đã va chạm vào khung sắt gần trước đầu xe máy kéo, dẫn đến xe mô tô của ông T điều khiển mất lái ngã vào lề đường phải theo chiều đi, còn xe máy kéo chạy qua đường tỉnh lộ 669B vào đường nhánh và dừng lại. Ngay sau đó, ông T được người dân chở vào trạm y tế xã ĐăkHlơ, huyện Kbang để chữa trị ngay. Vì vết thương quá nặng nên đến khoảng 21 giờ cùng ngày ông T chuyển viện xuống Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định và sau đó tiếp tục chữa trị cho đến nay, ông T vẫn chưa hoàn toàn khỏi hẳn, hiện đang phải ngồi xe lăn. Bà T đi cùng xe với ông T khi xe bị ngã thì bà không bị thương tích gì nên không yêu cầu ông T phải bồi thường gì về sức khỏe.

Việc ông T gây ra tai nạn giao thông dẫn đến thương tích cho ông T đã trực

tiếp xâm phạm đến sức khỏe của ông T. Vì vậy, ông T yêu cầu ông T phải bồi thường cho ông số tiền 268.547.160 đồng (Hai trăm sáu mươi tám triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn một trăm sáu mươi đồng), gồm các khoản sau:

- Tiền viện phí, chi phí thuốc men theo bảng kê chi phí điều trị nội trú của

các bệnh viện, tiền xe vận chuyển là 118.247.160 đồng (trong đó chi phí thuốc và những khoản thanh toán cho bệnh viện là 51.827.160 đồng; chi phí thuê phương tiện là 61.800.000 đồng; chi phí mua các thiết bị hỗ trợ là 4.620.000 đồng).

- Tiền công lao động của người bị thiệt hại bị mất do nằm viện và tiền công

lao động của người chăm sóc (từ ngày 16/11/2021 đến ngày 21/11/2022) là: 02 người x 364 ngày x 150.000 đồng/người = 109.200.000 đồng;

- Tiền bù đắp tổn T về tinh thần là 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy

định là 44.700.000 đồng.

Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án và tại phiên toà bà T (người đại diện

theo ủy quyền của nguyên đơn) xin rút một phần yêu cầu khởi kiện và chỉ yêu cầu một số khoản tiền yêu cầu bồi thường, cụ thể như sau:

- Tiền viện phí là 26.518.162 đồng, chi phí thuốc men kèm theo hoá đơn bán

lẻ là 18.866.000 đồng, tiền xe vận chuyển các lần đi từ Kbang đến Bệnh viện đa khoa tinh Bình Định và đi về là 11.000.000 đồng, có bảng kê chi phí điều trị nội trú của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định theo hồ sơ bệnh án do cung cấp đã được Toà án thu thập hồ sơ bệnh án, các Hợp đồng thuê xe;

- Tiền công lao động của người bị thiệt hại bị mất do nằm viện và tiền công

lao động của người chăm sóc (từ ngày 16/11/2021 đến ngày 21/11/2022 là 364 ngày) với mức trung bình tiền công lao động trên địa bàn huyện Kbang trong năm 2022, cụ thể là 02 người x 364 ngày x 200.000 đồng =145.600.000 đồng.

- Tiền bù đắp tổn T về tinh thần là 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy

định là 30 tháng x 1.800.000 đồng = 54.000.000 đồng.

Tổng cộng, ông Lê Quang T yêu cầu ông Lê Văn T phải bồi thường thiệt hại

do sức khoẻ bị xâm phạm là 255.984.162 đồng (hai trăm năm mươi lăm triệu, chín trăm tám mươi bốn nghìn, một trăm sáu mươi hai đồng).

Từ thời điểm nguyên đơn khởi kiện đến nay ông T vẫn phải đi bệnh viện để

điều trị thương tích trên nhưng ông T không yêu cầu ông T phải tiếp tục bồi thường những khoản chi phí tiếp tục phát sinh này.

Tại bản tự khai, tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông

Lê Văn T trình bày: Ông T thừa nhận vào chiều tối ngày 15/11/2021, ông có điều khiển xe máy kéo nhỏ không có đèn chiếu sáng nhưng có đèn đội đầu đi từ đường nhánh ra đường lớn (theo chiều từ bên lề đường trái sang lề đường phải). Do ông T vội về cho bò ăn nên đi nhanh không kịp quan sát thấy xe của ông đang đi ra từ đường nhánh nên giữa hai bên đã xảy ra va chạm nhẹ. Chân trái ông T đã va chạm vào khung sắt gần trước đầu xe máy kéo nhỏ, xe mô tô của ông T điều khiển mất lái ngã vào lề đường phải theo chiều đi, còn xe máy kéo chạy qua đường tỉnh lộ 669B vào đường nhánh và dừng lại. Ông T được người dân chở vào trạm y tế xã ĐăkHlơ, huyện Kbang để chữa trị ngay.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T chỉ đồng ý sẽ hỗ trợ một phần thiệt

hại cho ông T vì ông T xác định cả hai bên đều có lỗi, ông đã đi đúng phần đường của mình và ông T tự lái xe lao vào đầu xe của ông hơn nữa ông T còn có sẵn bệnh nền, rất khó lành nên phải điều trị lâu dài. Đồng thời hoàn cảnh gia đình ông khó khăn không có khả năng để bồi thường. Ông không chấp nhận bồi thường khoản tiền công lao động của ông T và người chăm sóc vì thời điểm đó ông có xuống Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định để chăm sóc, giúp đỡ gia đình ông T nhưng gia đình ông T không đồng ý.

Tại phiên toà, ông T không chấp nhận bồi thường toàn bộ số tiền mà ông T

yêu cầu là 255.984.162 đồng (hai trăm năm mươi lăm triệu, chín trăm tám mươi bốn nghìn, một trăm sáu mươi hai đồng) vì gia đình ông T hiện nay rất khó khăn không có khả năng để bồi thường.

Tại bản tự khai ngày 12/12/2022 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà

Đặng Thị T trình bày: Bà là vợ của ông Lê Quang T, ngày 15/11/2021 bà có đi cùng với ông T và đã bị xe máy kéo nhỏ của ông Lê Văn T tông vào gây tai nạn nhưng bà không bị thương tích gì, còn ông T chồng bà bị thương ở chân trái. Khi ông T nằm viện thì bà là người trực tiếp chăm sóc cho ông T, khi ra viện ông T vẫn không thể tự chăm sóc cho bản thân nên bà cũng là người chăm sóc cho ông. Vì vậy, bà yêu cầu anh T là người gây ra tai nạn cho ông T phải trả cho bà tiền công chăm sóc là 364 ngày theo quy định của nhà nước. Số tiền mà ông T trả bà đề nghị cộng vào khoản tiền mà ông T phải bồi thường cho ông T.

Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp gồm:

- 01 Kết luận điều tra số 01/KLĐT ngày 20/04/2022 của Công an huyện

Kbang về vụ tại giao thông xảy ra lúc 17h50 ngày 15/11/2021 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 25/10/2022 (bản chính) và 01

Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 25/10/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 26/10/2022 (bản chính) và 01

Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 26/10/2022(bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 15/9/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 15/9/2022 (bản chính);

- 02 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 15/9/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 15/9/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 08/8/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 08/8/2022(bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 29/8/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 29/8/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 05/7/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 05/7/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 31/5/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 31/5/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 25/5/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 25/5/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 22/5/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 22/5/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 06/5/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 06/5/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 05/5/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 05/5/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 18/4/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 18/4/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 17/4/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 17/4/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 13/4/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 13/4/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 12/4/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 12/4/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 29/3/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 29/3/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 28/3/2022 (bản chính) và 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 28/3/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 18/02/2022 (bản chính) và 01

Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 18/02/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 10/02/2022 (bản chính) và 01

Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 10/02/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng cho thuê xe ngày 14/01/2022 (bản chính) và 01 Biên bản

nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 14/01/2022 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 15/11/2021 (bản chính) và 01

Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 15/11/2021 (bản chính);

- 01 Hợp đồng kinh tế về việc thuê xe ngày 15/11/2021 (bản chính) 01 Biên

bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng ngày 15/11/2021 (bản chính);

- Các bản chính hoá đơn bản lẻ mua thuốc ngày 05/7/2022; 02 Phiếu thu ngày

21/6/2022 của Bệnh viện chợ rẫy; Phiếu bệnh nhân nạo tiền ngày 01/6/2022; Phiếu tạm ứng cận lâm sàng ngày 30/5/2022; Phiếu bệnh nhân phát thẻ mới ngày 05/5/2022; 04 Hoá đơn bán lẻ ngày 17/02/2022, ngày 15/02/2022, ngày 08/01/2022 và ngày 23/12/2021 của đơn vị NT Minh Nhật; 16 Hoá đơn ngày 13/01/2022, ngày 11/01/2022, ngày 10/01/2022, ngày 06/01/2022, ngày 30/12/2021, ngày 30/12/2021, ngày 29/12/2021, ngày 17/12/2021, ngày 17/12/2021, ngày 15/12/2021, ngày 13/12/2021, ngày 03/12/2021, ngày 01/12/2021, ngày 29/11/2021, ngày 28/11/2021 và ngày 26/11/2021 của nhà thuốc Vũ Hưng; Hoá đơn bán lẻ ngày 13/01/2022;

- 01 Hoá đơn nhà thuốc Tây Hương Giang ngày 07/12/2021 (bản chính); 01

Hoá đơn bán lẻ ngày 13/01/2022 (bản chính);

- 01 Toa thuốc của phòng khám chuyên khoa BS.Bửu Hoa (bản chính);

- 02 Phiếu yêu cầu chụp X- Quang và CT- Scanner của Trung tâm pháp y tỉnh

Gia Lai và Phiếu thu tiền (bản chính);

- 02 Bản chính Phiếu thu ngày 10/02/2022 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình

Định; 01 Bản chính Giấy xác nhận thực hiện dịch vụ của Bệnh viện ngoại thần kinh Quốc tế ngày 31/5/2022; 02 Bản chính Hoá đơn bán hàng ngày 05/7/2022 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai và Hoá đơn bán hàng ngày 12/12/2021 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định;

- 01 Bảng kê chi phí điều trị nội trú ngày 12/04/2022, 01 Hoá đơn bán hàng

ngày 29/3/2022, 01 Bảng kê chi phí điều trị nội trú ngày 29/3/2022 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định (bản chính);

- 01 Bảng kê chi phí điều trị nội trú nhập viện ngày 10/02/2022 của Bệnh viện

đa khoa tỉnh Bình Định (bản pho to);

- 03 Hoá đơn bán hàng điện tử ngày 14/01/2022 của Bệnh viện đa khoa tỉnh

Bình Định (bản pho to);

- 01 Bảng kê chi phí điều trị nội trú ngày 14/01//2022 của Bệnh viện đa khoa

tỉnh Bình Định (bản chính);

- 01 Bảng kê chi phí điều trị nội trú ngày 17/12/2021 của Bệnh viện đa khoa

tỉnh Bình Định (bản pho to);

- 02 Hoá đơn bán hàng điện tử ngày 17/12/2022 của Bệnh viện đa khoa tỉnh

Bình Định (bản pho to);

- 01 Đơn thuốc của Sở y tế Bình Định; 02 Đơn thuốc ngày 05/7/2022 của

Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai (bản chính); Và 01 đơn thuốc của Bệnh viện da khoa tỉnh Bình Định (bản pho to);

- 05 Giấy ra viện các ngày 05/7/2022, 17/12/2021, 14/01/2022, 17/12/2021 và

ngày 14/01/2022 (bán chính); 01 Giấy chứng nhận phẩu thuật (bản chính)

- 01 Giấy chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ngày 21/6/2022

(bản chính);

- 01 Giấy uỷ quyền ngày 26/11/2022 giữa bên uỷ quyền ông Lê Quang T và

bên được uỷ quyền bà Hà Thị T (bản chính);

- 13 Hình ảnh liên quan đến thương tích của ông Lê Quang T;

- 03 Căn cước công dân mang tên Lê Quang T, Đặng Thị T và Hà Thị T (đều

là bản sao);

Bị đơn anh Lê Văn T đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ sau: 01 Chứng minh

nhân dân mang tên Lê Văn T (bản phô tô).

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm

phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của đương sự được quy

định tại Điều 6, Điều 96, Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với bị đơn: Không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của đương sự được quy

định tại Điều 6, Điều 96, Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ vào khoản 6 Điều 26; điểm a

khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 232; khoản 1 Điều 235; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 và Điều 468 của Bộ

luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng

thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Căn cứ vào các Điều 143; Điều 144; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự

và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải

bồi thường các khoản như sau:

- Chi phí thuốc và những khoản thanh toán cho Bệnh viện và khoản chi phí

mua các thiết bị hỗ trợ và thuốc mua ngoài: 45.500.000 đồng.

- Chi phí thuê phương tiện các chuyến đi đến Trung tâm y tế huyện Kbang

đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, các ngày: 12/4/2022(1.500.000 đồng); 29/3/2022 và 28/3/2022(3.000.000 đồng); 17/02/2022 và 10/02/2022 (3.000.000 đồng); 14/01/2022 và 15/11/2021 (3.300.000 đồng) = 10.800.000 đồng.

- Chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn bị mất là: 371 ngày x 200.000

đồng/người = 74.200.000 đồng;

- Chấp nhận một phần khoản tiền công cho người chăm nuôi mức: 200.000

đồng /1 ngày x 85 ngày = 17.000.000 đồng.

- Chấp nhận một phần số tiền bồi thường tổn T tinh thần cho ông T từ

15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Tổng số tiền phải bồi thường: từ 162.500.000 đồng đến 172.500.000 đồng

trừ đi số tiền 4.800.000 đồng mà ông T đã bồi thường cho ông T.

Ông Lê Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Ông Lê Văn T

không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên

tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Lê Văn T khởi kiện đối với ông Lê

Văn T, trú tại: Thôn 3, xã Đ, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai yêu cầu ông T phải bồi thường thiệt do sức khỏe bị xâm phạm. Theo quy định tại khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì đây là tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

[2] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Trong quá trình

Toà án giải quyết vụ án và tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với các khoản tiền viện phí, chi phí thuốc men điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai, Bệnh viện Chợ Rẫy, các Phòng khám tư nhân và tiền xe vận chuyển đi và về những bệnh viện trên. Ông T chỉ yêu cầu bồi thường đối với các khoản tiền viện phí, chi phí thuốc men điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, tiền xe vận chuyển những lần đi và về (có Hợp đồng kinh tế thuê xe kèm theo), khoản tiền thuốc men có hoá đơn bán lẻ, tiền công lao động của người bị thiệt hại, người chăm sóc và tiền bồi thường tổn T về tinh thần. Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, người đại

diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được các đương sự cung cấp và Toà án thu thập được trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 14 giờ ngày 15/11/2021 ông Lê Quang T điều khiển xe mô tô

81H9-8191 chở theo vợ là bà T đi đến thị trấn Kbang để làm hồ sơ vay vốn tại Ngân hàng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày khi ông T đang đi trên đường tỉnh lộ 669B đường hướng Kbang đi thị xã An Khê để về nhà, khi đi đến ngã tư đường tỉnh lộ 669B và đường làng thuộc Làng Lợt, xã ĐăkHlơ, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai, xe mô tô của ông T điều khiển lưu thông đi đúng phần đường bên phải của mình, bất ngờ xe máy kéo nhỏ không có đèn chiếu sáng do ông T điều khiển đi từ đường nhánh ra (theo chiều từ bên lề đường trái sang lề đường phải). Khi phát hiện ra xe máy kéo ông T đã đánh tay lái qua phải theo chiều đi với mục đích tránh xe máy kéo đang chạy qua đường, do khoảng cách gần nên chân trái ông T đã va chạm vào khung sắt gần trước đầu xe máy kéo, xe mô tô của ông T điều khiển mất lái ngã vào lề đường phải theo chiều đi, còn xe máy kéo chạy qua đường tỉnh lộ 669B vào đường nhánh và dừng lại. Ngay sau đó, ông T được người dân chở vào trạm y tế xã ĐăkHlơ, huyện Kbang để chữa trị ngay. Vì vết thương quá nặng nên đến khoảng 21 giờ cùng ngày ông T chuyển viện xuống Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định và sau đó tiếp tục chữa trị cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn khỏi hẳn, ông T hiện vẫn đang phải ngồi xe lăn. Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 102/22/TgT ngày 14/4/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai, kết luận: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 53% (năm mươi ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT. Theo Kết luận điều tra số 01/KLĐT ngày 20/4/2022 của Công an huyện Kbang, tỉnh Gia Lai về vụ việc trên khẳng định nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông gây nên thương tích cho ông T là do ông T điều khiển xe máy kéo nhỏ lưu thông từ đường nhánh ra đường chính (tỉnh lộ 669B) không dừng lại quan sát và nhường đường nên khi đầu xe máy kéo nhỏ lưu thông đến phần đường phải tỉnh lộ 669B (hướng từ Kbang đi An Khê) đã va chạm vào chân trái của ông T đang điều khiển xe mô tô 81H9-8191 chở bà T ngồi sau đang lưu thông trên đường chính, làm xe mất lái ngã vào lề đường bên phải theo chiều đi. Hậu quả ông T bị gãy chân trái, vết thương rách da, vỡ nhiều xương phức tạp. Hành vi trên của ông T đã vi phạm vào khoản 3 Điều 24 của Luật giao thông đường bộ năm 2008 với lỗi vô ý. Ông T điều khiển xe mô tô có giấy phép lái xe, đi đúng phần đường quy định, xe có đèn chiếu sáng đảm bảo lưu thông nên ông T không có lỗi trong vụ tai nạn trên.

Như vậy, hành vi của ông Lê Văn T có lỗi vô ý trực tiếp xâm phạm đến sức

khỏe của ông Lê Quang T là nguyên nhân gây ra thiệt hại về sức khoẻ cho ông T nên ông T khởi kiện là có căn cứ đúng theo quy định tại Điều 584 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Đối với bị đơn ông Lê Văn T, trong quá trình giải quyết vụ án và tại

phiên toà, ông T trình bày ông là người điều khiển xe máy kéo nhỏ không có đèn chiếu sáng nhưng có đèn pin đội đầu, hơn nữa ông T là người lái xe mô tô nhanh không quan sát thấy xe của ông đang đi chuyển ra đường lớn nên mới xảy ra vụ va chạm. Ông T cho rằng cả ông và ông T đều có lỗi trong vụ việc tai nạn giao thông này nhưng do ông T bị nặng hơn, một phần nguyên nhân là do ông T mắc bệnh nền nên phải nhập viện điều trị lâu dài (gần 01 năm). Hơn nữa, hiện nay hoàn cảnh kinh tế gia đình ông rất khó khăn nên không có điều kiện để bồi thường các khoản mà ông T yêu cầu.

[5] Đối với yêu cầu bồi thường các khoản chi phí liên quan cho việc cứu

chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ do tai nạn giao thông gây ra và chi phí thuê xe đưa nguyên đơn đến điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định và trở về nơi ở với tổng số tiền là 57.015.112 đồng, đây là các khoản chi phí hợp lý, đã được thu thập hồ sơ bệnh án đầy đủ nên Hội đồng xét xử chấp nhận cụ thể:

- Lần 01: Ông T nhập viện điều trị từ ngày 15/11/2021 đến ngày 14/01/2022

thì ra viện gồm: chi phí điều trị là 23.965.591 đồng; chi phí thuê xe là 3.300.000 đồng (gồm: Từ Đ đến thị trấn Kbang là 300.000 đồng, từ thị trấn Kbang đến Bình Định là 1.500.000 đồng và từ Bình Định về huyện Kbang là 1.500.000 đồng);

- Lần 02: Ông T nhập viện điều trị từ ngày 10/02/2022 đến ngày 18/02/2022

thì ra viện, chi phí điều trị là 1.352.976 đồng, chi phí thuê xe là 3.200.000 đồng (gồm: Từ huyện Kbang đến Bình Định là 1.700.000 đồng và từ Bình Định về huyện Kbang là 1.500.000 đồng);

- Lần 03: Ông T nhập viện điều trị từ ngày 28/03/2022 đến ngày 29/3/2022

thì ra viện, chi phí điều trị là 169.345 đồng, chi phí thuê xe là 3.000.000 đồng (gồm: Từ huyện Kbang đến Bình Định là 1.500.000 đồng và từ Bình Định về huyện Kbang là 1.500.000 đồng);

- Lần 04: Ông T nhập viện điều trị từ ngày 12/4/2022 đến ngày 12/4/2022 thì

ra viện, chi phí điều trị là 0 đồng, chi phí thuê xe 01 chuyến là 1.500.000 đồng (Từ huyện Kbang đến Bình Định) do đi về trong ngày.

- Lần 05: Ông T nhập viện điều trị từ ngày 15/12/2022 đến ngày 27/12/2022

thì ra viện, chi phí điều trị là 1.661.200 đồng;

- Tổng tiền thuốc hỗ trợ điều trị, phục hồi sức khoẻ có hoá đơn bán lẻ hợp lệ

kèm theo là 18.866.000 đồng.

[6] Đối với yêu cầu bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất của ông Lê

Văn T trong thời gian điều trị bệnh là 364 ngày x 200.000 đồng = 72.800.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, thời gian ông T điều trị bệnh và phải ngồi xe lăn không lao động được là từ ngày 16/11/2021 đến ngày 27/12/2022 là 371 ngày, ông T là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không thể xác định được thu nhập là bao nhiêu nên cần chấp nhận mức thu nhập trung bình của lao động tự do tại địa phương trong năm 2022 là 200.000 đồng/ngày đối với ông T là phù hợp; do đó chấp nhận yêu cầu bồi thường ngày công lao động của ông T là: 200.000 đồng x 371 ngày = 74.200.000 đồng.

[7] Đối với yêu cầu bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất của người

chăm sóc là bà T trong thời gian điều trị bệnh là 364 ngày x 200.000 đồng = 72.800.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy chỉ chấp nhận bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất trong thời gian bà T chăm sóc cho ông T trong những lần điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định là 85 ngày (cụ thể từ ngày 15/11/2022-14/01/2022 là 60 ngày; từ ngày 10/2/2022-18/2/2022 là 09 ngày; từ ngày 28/3/2022-29/3/2022 là 02 ngày; ngày 12/4/2022 là 01 ngày; từ ngày 15/12/2022-27/12/2022 là 13 ngày), bà T là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không thể xác định được thu nhập là bao nhiêu nên cần chấp nhận mức thu nhập trung bình của lao động tự do tại địa phương trong năm 2022 là 200.000 đồng/ngày đối với bà T là phù hợp; do đó chấp nhận yêu cầu bồi thường ngày công lao động của bà T là: 200.000 đồng x 85 ngày = 17.000.000 đồng. Bà T yêu cầu được tính khoản tiền này vào tổng số tiền phải bồi thường cho ông T do sức khoẻ bị thiệt hại, bà không yêu cầu nhận số tiền này.

[8] Đối với yêu cầu bồi thường tổn T về tinh thần do bị xâm phạm về sức

khoẻ: Ông T yêu cầu ông T phải bồi thường với mức là 30 tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định là quá cao. Hội đồng xét xử thấy rằng ông T chỉ là vô ý gây nên va chạm với ông T, không có hành vi xúc phạm hay làm tổn thương gì đến ông T nên không làm tổn hại quá nhiều đến tinh thần của ông T; tuy nhiên do va chạm với ông T mà ông T phải chữa trị lâu dài, không có cuộc sống ổn định nên cần chấp nhận bồi thường tổn T về tinh thần với mức là 10 tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định là: 1.800.000 x 10 tháng = 18.000.000 đồng.

[9] Theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị quyết

số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thì đây là các khoản chi phí hợp lý, thiệt hại thực tế về vật chất và tinh thần của ông T, phù hợp với quy định của pháp luật nên buộc ông Lê Văn T phải bồi thường. Vì vậy, cần chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Lê Văn T phải bồi thường cho ông Lê Quang T số tiền thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là 166.215.112 đồng (một trăm sáu mươi sáu triệu, hai trăm mười lăm nghìn, một trăm mười hai đồng). Trong quá trình ông T nằm viện điều trị ông T đã bồi thường cho ông T số tiền 4.800.000 đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đồng) nên ông T còn phải tiếp tục bồi thường cho ông T số tiền 161.415.112 đồng (một trăm sáu mươi mốt triệu, bốn trăm mười lăm nghìn, một trăm mười hai đồng).

[10] Xét quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên toà về hướng giải

quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[11] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Như vậy, anh Lê Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.070.755 đồng (tám triệu, không trăm bảy mươi nghìn, bảy trăm năm mươi lăm đồng). Ông Lê Quang T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

39; Điều 227; Điều 232; khoản 1 Điều 235; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 và Điều 468 của Bộ

luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng

thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Căn cứ vào các Điều 143; Điều 144; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự

và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Quang

T.

Buộc bị đơn ông Lê Văn T phải bồi thường cho ông Lê Quang T số tiền thiệt

hại do sức khỏe bị xâm phạm là 161.415.112 đồng (một trăm sáu mươi mốt triệu, bốn trăm mười lăm nghìn, một trăm mười hai đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi

người phải thi hành án thi hành án xong khoản tiền nói trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Buộc bị đơn ông Lê Văn T phải chịu 8.070.755 đồng (tám triệu,

không trăm bảy mươi nghìn, bảy trăm năm mươi lăm đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm;

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/8/2023) các đương sự có

quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ