vanban.org

Quyết định 16/2022/HS-GĐT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 21/06/2022 Hình sự Giám đốc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 40/QĐ-VC2 ngày 31/3/2022 củaViện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Th.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 179/2021/HS-ST ngày 09/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B và Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 13/2022/HSPT-QĐ ngày 22/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh B. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Xuân M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 40/QĐ-VC2 ngày 31/3/2022 củaViện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Th.
  • Căn cứ chính? Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 389 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quyết định số:16/2022/HS-GĐT
Ngày 21 tháng 6 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Phó Chánh án- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Tuấn

Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: ÔngVũ Thanh Liêm và ông Lê Phước Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tố Nga - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Minh Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 21tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:

Người bị kết án:

A, sinh năm 1982 tại B; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: tổ 1 Tây C, phường D, thành phố Đ, tỉnh B; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông E (chết) và bà Ê (sinh năm 1958); Có vợ là H (sinh năm 1989) và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền sự, tiền án: không; Bị cáo hiện đang thi hành án tại trại giam A2-Bộ Công an, tỉnh B.

Người bị hại: Anh F, sinh năm 2002.

Nơi ĐKNKTT: thôn P, xã Q, huyện N, tỉnh M. Tạm trú: Hòn Nghê 3, xã L, thành phố Đ, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 26/11/2020, A đi bộ đến khu vực chợ D, phường D, thành phố Đ với mục đích xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu dùng cá nhân. Khi A đi đến trước khu vực trước chợ D thì phát hiện thấy 01 xe máy hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 79N1-996.18 của chị O đang dựng trước cổng chợ, không có người trông giữ nên A nảy sinh ý định lấy trộm xe máy trên. A đi đến gần, dùng dụng cụ phá khóa xe tự chế “đoản” mang sẵn trong người, phá khóa xe máy nhưng không được nên A dừng lại. Lúc này, A quan sát xung quanh thì thấy có 01 xe máy hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 79D1-273.38 của anh F đang dựng gần đó, không có người trông giữ nên A đi đến gần dùng “đoản” phá khóa xe máy này. Khi A đang dắt xe máy hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 79D1-273.38 đi được một đoạn thì anh Ơ và anh F phát hiện truy hô đuổi theo và cùng người dân bắt giữ được Minh cùng tang vật giao cho Công an phường D.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 537/KL-HĐĐGTS ngày 14/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, tỉnh B kết luận: 01 xe máy hiệu Honda Wave, màu xám bạc đen, biển kiểm soát 79D1-273.38 trị giá 5.206.000 đồng.

- Tại Kết luận điều tra số 237/ĐTTH ngày 13/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh B đề nghị truy tố bị can A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

- Tại Bản cáo trạng số 239/CT-VKSNT ngày 27/7/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh B đã truy tố bị cáo A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

III. QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN:

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 179/2021/HS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B quyết định:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo A 06 (sáu) tháng tù về “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 26/11/2020 đến ngày 05/12/2020.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng và thông báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 16/11/2021, bị cáo A làm đơn kháng cáo với nội dung: Mức án quá nặng, bị cáo xin được hưởng án treo.

- Tại Quyết định đình chỉ vệc xét xử phúc thẩm số 13/2021/HSPT-QĐ ngày 22/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh B đã Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm do bị cáo A rút kháng cáo tại phiên tòa.

Ngày 31/5/2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Th ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 40/QĐ-VC2 với nội dung: Tuy nhiên, trong vụ án này, TAND thành phố Đ, tỉnh B chỉ kết luận A phạm tội “Trộm cắp tài sản” đối với việc lén lút chiếm đoạt xe 79D1-273.38 của anh F mà không xem xét hành vi của A trong việc lén lút chiếm đoạt xe 79N1-966.18 của chị O là không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, có dấu hiệu bỏ lọt hành vi phạm tội của A. Từ đó, xử phạt A mức hình phạt 06 tháng tù là không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Do đó, cần phải kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên của TAND thành phố Đ, tỉnh B theo hướng hủy Bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật đối với A.

Tại Quyết định kháng nghị số 40/QĐ-VC2 ngày 315/2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Th đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Th xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 179/2021/HS-ST ngày 09/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B và hủy Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 13/2022/HSPT-QĐ ngày 22/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh B để điều tra lại với lý do: Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B chỉ kết luận A phạm tội “Trộm cắp tài sản” đối với việc lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 79D1-273.38 của anh Ngô Minh Hiếu mà không xem xét hành vi của A trong việc lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 79N1-966.18 của chị O không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, có dấu hiệu bỏ lọt hành vi phạm tội của A. Từ đó, xử phạt A mức hình phạt 06 tháng tù là không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Th chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Th.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

A đi đến khu vực trước chợ D, thành phố Đ thì phát hiện thấy 01 xe máy hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 79N1-996.18 của chị O đang dựng trước cổng chợ, không có người trông giữ nên A nảy sinh ý định lấy trộm xe máy trên.A đi đến gần, dùng dụng cụ phá khóa xe tự chế “đoản” mang sẵn trong người, phá khóa xe máy nhưng không được nên A dừng lại, A quan sát xung quanh thì thấy có 01 xe máy hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 79D1-273.38 của anh F đang dựng gần đó, không có người trông giữ nên A đi đến gần dùng “đoản” phá khóa xe máy này, khi A đang dắt xe máy hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 79D1-273.38 đi được một đoạn thì anh Ơ và anh F phát hiện bắt giữ .

. Xét thấy, mặc dù lúc đầu A có ý định chiếm đoạt tài sản là xe máy Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 79N1-996.18 của O nhưng vì không mở được khóa xe nên A đã từ bỏ ý định chiếm đoạt đối với chiếc xe này đồng thời chuyển ý định chiếm đoạt chiếc xe 79D1-273-38 của anh F. Thực tế, xe máy biển kiểm soát 79N1-996.18 vẫn còn ở vị trí ban đầu, chưa bị dịch chuyển và A đã lấy được xe 79 D1-273-38. A không phạm tội chưa đạt đối với xe 79N1-996.18 của chị O do đã từ bỏ ý định trộm cắp đối với xe này. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ kết luận và xét xử A phạm tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi chiếm đoạt xe 79D1-273-38 của anh F theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và tuyên phạt bị cáo 06 tháng tù là có căn cứ và đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Th.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 382; khoản 1 Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1.Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 40/QĐ-VC2 ngày 31/3/2022 củaViện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Th.

2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 179/2021/HS-ST ngày 09/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B và Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 13/2022/HSPT-QĐ ngày 22/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh B.

Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định.

Cỡ chữ