vanban.org

Quyết định 16/2021/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Anh Vi Văn L, sinh năm 1988 và chị Ngân Thị A, sinh năm 1990.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về hôn nhân: Anh Vi Văn L và chị Ngân Thị A thống nhất tự nguyện thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vi Văn L và Ngân Thị A"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Anh Vi Văn L, sinh năm 1988 và chị Ngân Thị A, sinh năm 1990.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUAN HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/2021/QĐST-HNGĐQuan Hóa, ngày 23 tháng 4 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 67/2020/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2020, giữa:

Nguyên đơn: Anh Vi Văn L – Sinh năm 1988 Trú tại: Thôn Thanh Thủy, xã Vụ Bổn, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Số CMND: xxxxxxxxx, cấp ngày 18/8/2012; Nơi cấp: Công an tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Chi Ngân Thị A – Sinh năm 1990 Trú tại: Bản Yên, xã Hiền Chung, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Số CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 25/6/2020; Nơi cấp: Cục trưởng Cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về Trật tự Xã hội.

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 146, Điều 147, Điều 212, Điều 213, Điều 397 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 147, Điều 148 và Điều 278 Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 68, Điều 69, Điều 71, Điều 72, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 88, Điều 107, Điều 110, Điều 115, Điều 116, Điều 117, Điều 118 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điều Điều 3; Điều 6; khoản 7 Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Căn cứ vào Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 15 tháng 4 năm 2021.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 15 tháng 4 năm 2021 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 (Bảy) ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Anh Vi Văn L, sinh năm 1988 và chị Ngân Thị A, sinh năm 1990.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về hôn nhân: Anh Vi Văn L và chị Ngân Thị A thống nhất tự nguyện thuận tình ly hôn.

Quan hệ hôn nhân giữa anh Vi Văn L và chị Ngân Thị A chấm dứt kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 143, quyển số 01/2009 ngày 01/12/2009 của Ủy ban nhân dân xã Vụ Bổn, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk cấp cho anh Vi Văn L và chị Ngân Thị A không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Các đương sự công nhận và thống nhất trong thời kỳ hôn nhân có 03 con chung, tên các cháu là Vi Văn T, sinh ngày 28/3/2010, cháu Vi Văn T1 và cháu Vi Văn N đều sinh ngày 14/8/2013, hiện các cháu đều đang ở với mẹ, các cháu phát triển bình thường về thể chất, trí lực; Trong quá trình giải quyết vụ án thì cháu Vi Văn T có nguyện vọng muốn được ở với bố, các cháu Vi Văn T1 và cháu Vi Văn N đều có nguyện vọng được ở với mẹ, anh Vi Văn L và chị Ngân Thị A đồng ý theo nguyện vọng của các cháu, đồng thời anh L, chị A đã tự nguyện thỏa thuận, thống nhất, giao cháu Vi Văn T, sinh ngày 28/3/2010 cho anh Vi Văn L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, cho đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi); Giao các cháu Vi Văn T1, sinh ngày 14/8/2013 và cháu Vi Văn N, sinh ngày 14/8/2013 cho chị Ngân Thị A là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, cho đến khi từng cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi); Anh Vi Văn L và chị Ngân Thị A đều có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự thỏa thuận và thống nhất, anh Vi Văn L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Ngân Thị A mỗi cháu là 500.000đồng/tháng/cháu. Hai cháu là 1.000.000đ (Một triệu đồng chẵn)/01 tháng, cho đến khi từng cháu trưởng thành (Đủ 18 tuổi); Hình thức cấp dưỡng: Hàng tháng; Thời gian cấp dưỡng từ tháng 5 năm 2021.

Vì quyền lợi mọi mặt của người con, khi cần thiết, chị Ngân Thị A và anh Vi Văn L có quyền làm đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có căn cứ cảu pháp luật. Chị Ngân Thị A có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh Vi Văn L và chị Ngân Thị A đều thống nhất mỗi người phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, anh Vi Văn L tự nguyện nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng trong vụ án HN&GĐ. Chấp nhận anh Vi Văn L đã nộp 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí HN&GĐ sơ thẩm và 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0013201 ngày 28/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Anh Vi Văn L được nhận lại số tiền 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng chẵn) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.

Chị Ngân Thị A phải nộp 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án căn cứ điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ