- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp hành chính"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 16/2021/QĐ-TA | K, ngày 23 tháng 9 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH ĐĂK LĂK
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Trần Đôn.
2. Thư ký phiên họp: Bà Đinh Thị Thu Hà.
Ngày 23 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đăk Lăk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 16/2021/QĐ-TA ngày 16/9/2021, đối với:
Đối với: Nguyễn Văn D; Sinh ngày 06/02/1990.
Nơi ĐKHKTT: Buôn E, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở hiện nay: Buôn E, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, Trình độ văn hóa: 9/12.
Nghề nghiệp: Làm nông
Con ông Nguyễn Văn H và con bà Nguyễn Thị T.
Tiền sự: Ngày 01/02/2021 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn B theo quyết định số thị trấn B/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thị trấn B về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 03 tháng. Đã chấp hành xong.
Tiền án: Không
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn T2 – Phó trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện K.
2. Đại diện Viện kiểm sát: Ông Nguyễn Ngọc Huy – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện K.
NHẬN THẤY
Nguyễn Văn D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Buôn E, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vào ngày 01/02/2021, Nguyễn Văn D đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn B với thời hạn 03 tháng theo Quyết định số 92/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thị trấn Bvề hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 01/05/2021 Nguyễn Văn D chấp hành xong thời gian giáo dục tại thị trấn B.
Ngày 23/7/2021, Công an huyện K phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính số 110/BB-VPHC về việc Nguyễn Văn D sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc, Nguyễn Văn D khai nhận bắt đầu sử dụng chất ma túy từ năm 2008 cho đến nay, bản thân D đã đi cơ sở cai nghiện 02 lần, lần 1: từ năm 2008 – 2011, lần 2: từ năm 2018 - 2020. Loại ma túy sử dụng là Morphin, cách thức sử dụng là pha ma túy với nước cất rồi tiêm trực tiếp vào cơ thể, liều lượng sử dụng là 200.000đ một lần. Công an huyện K đã phối hợp với Bệnh viện đa khoa huyện K, tỉnh Đăk Lăk xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Văn D. Kết quả dương tính với ma túy.
Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị ông Nguyễn Văn T2 – Phó trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện K trình bày: Căn cứ vào Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ; hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thể hiện Nguyễn Văn D là người nghiện ma túy từ năm 2008 đến nay nhưng không tự cai nghiện được gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, đồng thời trước đây vào ngày 01/02/2021 đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn B với thời hạn 03 tháng nhưng vẫn không tự cai nghiện được. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện K xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn D với thời hạn 24 tháng.
Người bị đề nghị Nguyễn Văn D thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đề nghị Tòa án xem xét giảm thời gian đi cơ sở cai nghiện bắt buộc xuống còn 20 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K phát biểu ý kiến: Về thẩm quyền giải quyết vụ việc, tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng, về thu thập chứng cứ, thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng; trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại phiên họp và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đúng theo Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014.
Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn D với thời hạn từ 18- 24 tháng.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào các ý kiến trình bày tại phiên họp, xét thấy:
Nguyễn Văn D là người trên 18 tuổi, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, buộc D phải biết chất ma túy là chất gây nghiện, do Nhà nước độc quyền quản lý, cấm sử dụng, gây nhiều nguy hại cho nòi giống con người và xã hội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng, không những thế nó còn là một trong những nguyên nhân làm lan truyền căn bệnh thế kỷ lây nhiễm HIV/AIDS và dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác gây ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội. Nguyễn Văn D bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2008, đã 02 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt nhưng vẫn không cai nghiện được. Vào ngày 01/02/2021 đã bị áp dụng dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn Bvới thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 92/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thị trấn B, đến ngày 23/7/2021 Nguyễn Văn D tiếp tục bị Công an thị trấn B, huyện K phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Do đó các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn D. Việc lập hồ sơ của các cơ quan có thẩm quyền đầy đủ, đúng quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, 4, 8, 9, 11, 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.
Khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:
“1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.
Trên cơ sở xem xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật, nhân thân, mức độ nhận thức về pháp luật của người bị đề nghị và ý kiến của những người tham gia phiên họp, xét thấy mặc dù biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nhưng Nguyễn Văn D vẫn cố ý sử dụng chất ma túy. Xét hành vi của D có tính liên tục, kéo dài, để tạo điều kiện cho D chữa bệnh, lao động, học tập, học nghề để trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và cộng đồng xã hội cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện K. Tuy nhiên, sau khi bị phát hiện về hành vi của mình Nguyễn Văn D đã tự nguyện khai báo về hành vi của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 nên cần áp dụng cho Nguyễn Văn D.
Căn cứ vào các Điều 6, 95, 96, Khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 3, 4, 8, 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.
Chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện K, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn D.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Văn D.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đăk Lăk – Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh Đăk Lăk (Địa chỉ: Thôn 4, xã Tân Tiến, huyện Krông Pắk, tỉnh Đăk Lăk).
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Nguyễn Văn D có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định; cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện K; Công an huyện K.
| Nơi nhận: - VKSND huyện; - Phòng LĐTBXH huyện; - Công an huyện; - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đăk Lăk; - Người bị đề nghị; - Lưu HS. | THẨM PHÁN Nguyễn Trần Đôn |