vanban.org

Quyết định 16/2020/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Trần Thị V - Nguyễn Thị N"
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘ
UYỆ D

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/2020/QĐST-VDS

QUYẾ ĐỊ

S

ẨM IẢI QUYẾ VIỆC

SỰ

V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”

UYỆ D

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoàng – Thẩm phán

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngọc Xuân – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương.

- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Trần Hoàng Anh - Kiểm Sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 33/2020/TLST-DS ngày 06/10/2020 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số 32/2020/QĐST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị V, sinh năm 1961, địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Trần Thị V yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1921; địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương mất năng lực hành vi dân sự.

ỘI U VIỆC

SỰ:

Bà Nguyễn Thị N là mẹ ruột của bà V. Do tuổi già nên hiện nay, bà N không nhận thức được hành vi, bà V là người trực tiếp chăm sóc sinh hoạt hằng ngày cho bà N. Hiện nay, do gia đình bà V muốn làm thủ tục liên quan đến thừa kế đất đai cho bà N nhưng không thể thực hiện được do bà N không đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, bà V làm đơn yêu cầu Tòa án xem xét tuyên bố bà N mất năng lực hành vi dân sự.

Tại phiên họp ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương: Tòa án đã tiến hành đúng theo quy định tại các Điều 369, 370, 377, 378 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ việc. Đề nghị áp dụng Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 tuyên bố bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1921 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 2, ấp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương mất năng lực hành vi dân sự.

Ậ ĐỊ :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện D nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ yêu cầu và thẩm quyền giải quyết: Người yêu cầu bà Trần Thị V có đơn yêu cầu “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, đây là việc dân sự quy định tại Khoản 3 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo Sổ hộ khẩu số 080321325 ngày 17 tháng 12 năm 2018, bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1921 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 2, ấp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương.

[2] Xét yêu cầu của người yêu cầu:

Bà Trần Thị V trình bày: Bà Nguyễn Thị N là mẹ ruột của bà V. Do tuổi già nên hiện nay, bà N không nhận thức được hành vi, bà V là người trực tiếp chăm sóc sinh hoạt hằng ngày cho bà N. Hiện nay, do gia đình bà V muốn làm thủ tục liên quan đến thừa kế đất đai cho bà N nhưng không thể thực hiện được do bà N không đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, bà V làm đơn yêu cầu Tòa án xem xét tuyên bố bà N mất năng lực hành vi dân sự.

Sau khi thụ lý vụ việc, theo đơn yêu cầu của bà Trần Thị V, Tòa án nhân dân huyện D đã trưng cầu giám định tâm thần đối với bà Nguyễn Thị N.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 618/KL-VPYTW ngày 04/11/2020 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa đối với bà Nguyễn Thị N đã kết luận:

+ Về y học: Bà Nguyễn Thị N bị bệnh mất trí trong bệnh Alzheimer khởi phát muộn (F00.1-ICD.10).

+ Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Bà Nguyễn Thị N mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và Kết luận giám định của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương Biên Hòa, xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị N mất năng lực hành vi dân sự.

[3] Tại phiên họp, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị N mất năng lực hành vi dân sự. Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[4] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị V phải nộp theo quy định pháp luật.

[5] Chi phí giám định 4.333.750 đồng (bốn triệu ba trăm ba mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng) bà Vân chịu.

QUYẾ ĐỊ :

- Căn cứ vào Điều 27, 35, 39, 361, 367, 370, 371, 372, 376, 378 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 22, 53 Bộ luật Dân sự.

- Áp dụng Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Trần Thị V đối với bà Nguyễn Thị N.

Tuyên bố bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1921; địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị V phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0045135 ngày 06/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Bình Dương.

3. Chi phí giám định: Bà Trần Thị V chịu 4.333.750 đồng (bốn triệu ba trăm ba mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng). Bà V đã nộp xong.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

ẨM P

Cỡ chữ