vanban.org

Quyết định 16/2020/QĐ-PT

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 13/02/2020 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngọc Văn L; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 39/2019/QĐST-HC ngày 09 tháng 12 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Ông Ngọc Văn L không phải chịu lệ phí hành chính phúc thẩm do được miễn nộp. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Người khởi kiện: ông Ngọc Văn L, bà Ngọc Thị X"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngọc Văn L; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 39/2019/QĐST-HC ngày 09 tháng 12 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/2020/QĐ-PTĐà Nẵng, ngày 13 tháng 02 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Võ Ngọc Thông;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Xuân Điền;

Ông Trần Quốc Cường.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên họp: Ông Phạm Tấn Ánh – Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 39/2019/QĐST-HC ngày 09 tháng 12 năm 2019.

Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38; điểm d khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 1 Điều 143; Điều 144; Điều 145 và khoản 2 Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Kiện hành vi hành chính về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai”, giữa:

1. Người khởi kiện: ông Ngọc Văn L, bà Ngọc Thị X.

Địa chỉ: 487/12 Đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Ngọc Thị X: ông Ngọc Văn L.

2. Người bị kiện: UBND thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Lưu Văn K - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố B.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Ông Huỳnh Nhật N1 - Chức vụ: Chuyên viên Phòng TN&MT thành phố B.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Ngọc Đức C1, bà Ngô Thị H1.

Địa chỉ: 487/12 Đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đắk Lắk.

Người được ủy quyền: Ông Lê Quốc H2 - Chức vụ: Trưởng phòng khách hàng cá nhân.

Tại Đơn kháng cáo ngày 16 tháng 12 năm 2019 của ông Ngọc Văn L với lý do: Uỷ ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 026389 ngày 04/04/2011 cho ông Ngọc Đức C1 và bà Ngô Thị H1 là chồng lấn lên đất của gia đình ông; trong khi đó, ông không có tặng cho diện tích đất đang tranh chấp. Toà án cấp sơ thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là không đúng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông, huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 026389 ngày 04/04/2011 của Uỷ ban nhân dân thành phố B cấp cho ông Ngọc Đức C1 và bà Ngô Thị H1.

XÉT THẤY:

Vào năm 1989 ông Ngọc Văn L có cho em mình là ông Ngọc Văn C1 diện tích đất 100m2, thửa đất này là do ông L khai phá thêm vào năm 1985 chứ không nằm trong thửa đất mà Sư đoàn 470 cấp cho ông; thể hiện tại Đơn cho đất ở cho em được xác lập ngày 10/5/1989 (BL/43) được Tổ tự quản dân phố 5 xác nhận. Đến năm 2003 ông C1 đã xây nhà kiên cố và ở liên tục, ổn định cho đến nay và đã được Uỷ ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 026389 ngày 04/04/2011. Từ đó cho đến trước khi có Đơn khiếu nại, ông L không có ý kiến hay khiếu nại gì, đến nay thời hiệu khởi kiện đã hết. Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk không chấp đơn khởi kiện của ông L, bà X và ra quyết định đình chỉ vụ án hành chính là đúng qui định pháp luật.

Tuy nhiên, tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính nêu trên áp dụng điểm d khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính để nhận định việc ông L, bà X khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 026389 ngày 04/04/2011 của Uỷ ban nhân dân thành phố B cấp cho ông Ngọc Đức C1 và bà Ngô Thị H1 đã được giải quyết tại Bản án kinh doanh thương mại số 13/2018/KDTM-ST ngày 18/10/2018 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” để làm căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là thiếu chính xác.

Qua phân tích trên, Hội đồng phiên họp xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngọc Văn L.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngọc Văn L; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 39/2019/QĐST-HC ngày 09 tháng 12 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

2. Ông Ngọc Văn L không phải chịu lệ phí hành chính phúc thẩm do được miễn nộp.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

Cỡ chữ