vanban.org

Quyết định 16/2019/QĐ-TA

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 25/06/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Danh Si T.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 18 tháng (Mười tám tháng), kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa Danh Si T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Danh Si T.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ R G
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/2019/QĐ-TAR G, ngày 25 tháng 6 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R G, TỈNH KIÊN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Bùi Tấn Nghĩa.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Tú.

Ngày 25 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R G, tỉnh Kiên Giang tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số: 11/QĐ-TA ngày 22 tháng 5 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Danh Si T (tên gọi khác: không), sinh ngày 02/4/1996; Giới tính: Nam; CMND xxxxxxxxx, ngày cấp: 06/12/2012, nơi cấp: Công an tỉnh Kiên Giang; Dân tộc: Khơme; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 03/12; Quê quán: R G - Kiên Giang; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 10, khu phố 1, phường V T, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Ngư phủ; Con ông Danh Thành Th và bà Danh Thị N; Tiền án, tiền sự: không. (Có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn Đây – Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. (Theo văn bản ủy quyền ngày 05/6/2019).

2. Đại diện Viện kiểm sát: Bà Danh Tường Vi – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G.

NHẬN THẤY:

Danh Si T là người nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine (ma túy đá) và có nơi cư trú ổn định. Vào ngày 22/5/2018 và ngày 16/7/2018, Danh Si T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an phường V T, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang lập biên bản vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền. Ngày 28/8/2018 Danh Si T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 03/9/2018 Công an phường V T lập hồ sơ vi phạm, không ra quyết định xử phạt hành chính mà lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Ngày 13/9/2018 Chủ tịch UBND phường V T ban hành Quyết định số: 129/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Thời hạn áp dụng là 03 tháng, kể từ ngày 13/9/2018 đến ngày 12/12/2018.

Danh Si T đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và được Công an phường V T cấp Giấy chứng nhận số 01/GCN-UBND, ngày 12/12/2018.

Vào ngày 01/4/2019 Công an phường V T, thành phố R G mời Danh Si T đến trụ sở Công an phường V T để xét nghiệm chất ma túy; kết luận dương tính với chất ma túy Methamphetamine (ma túy đá). Quá trình làm việc Danh Si T thừa nhận vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 30/3/2019 tại khu vực chợ 30/4, thuộc phường Vĩnh Quang, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang, T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy đá. Tại phiếu trả lời kết quả xét nghiệm của Trung tâm Y tế thành phố R G ngày 01/4/2019 kết luận: Danh Si T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine (ma túy đá), trên cơ sở đó, ngày 03/4/2019 Công an phường V T lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại Công văn số: 20/LĐ-TBXH ngày 03/5/2019 của Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố R G cũng như tại phiên họp, người đại diện theo ủy quyền của Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành R G giữ nguyên ý kiến đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện Danh Si T có lý lịch nêu trên vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thời gian áp dụng là 18 tháng.

Tại phiên họp, người bị đề nghị Danh Si T thừa nhận đã nhiều lần thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy Methamphetamine (ma túy đá), và đã bị Chủ tịch UBND phường V T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Thời hạn áp dụng là 03 tháng, kể từ ngày 13/9/2018 đến ngày 12/12/2018, T đã chấp hành xong. Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 30/3/2019 tại khu vực chợ 30/4 thuộc phường Vĩnh Quang, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang, T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy đá. Kết quả xét nghiệm T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine (ma túy đá) là đúng. Vì vậy, việc Công an phường V T, thành phố R G tiến hành lập hồ sơ đề nghị và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố R G đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng quy định của pháp luật nên T không có ý kiến gì. Tuy nhiên, T xin được cai nghiện tại nhà để lao động phụ giúp gia đình.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G tham gia phiên họp có ý kiến:

Về trình tự thủ tục từ khi thụ lý vụ việc đến khi mở phiên họp, Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp đã thực hiện đúng theo luật định tại các Điều 7, 8, 9, 10, 11, 12,16,17,18,19, 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, ngày 20/01/2014, về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về thủ tục hồ sơ đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện Danh Si T có lý lịch nêu trên có nơi cư trú ổn định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố R G đã thực hiện đúng thủ tục theo luật định.

Vì vậy, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo hướng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Danh Si T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố R G, người bị đề nghị và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G. Tòa án nhân dân thành phố R G xét thấy:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện Danh Si T có lý lịch nêu trên, có nơi cư trú ổn định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố R G đã thực hiện đúng trình tự, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại các Điều 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính. Hồ sơ đề nghị có đầy đủ tài liệu, giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi: Quá trình lập hồ sơ đề nghị và tại phiên họp người bị đề nghị Danh Si T xác nhận: T đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy Methamphetamine (ma túy đá). T đã bị Chủ tịch UBND phường V T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; thời hạn áp dụng là 03 tháng, kể từ ngày 13/9/2018 đến ngày 12/12/2018. T đã chấp hành xong. Tuy nhiên, vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 30/3/2019 tại khu vực chợ 30/4 thuộc phường Vĩnh Quang, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang, T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy đá. Kết quả xét nghiệm T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine (ma túy đá), nên Công an Phường V T, thành phố R G lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng.

Lời thừa nhận của người bị đề nghị Danh Si T là phù hợp với biên bản vi phạm hành chính và biên bản xác minh nơi cư trú của Công an phường V T, thành phố R G; Biên bản xét nghiệm chất ma túy của Trạm y tế phường V T; Phiếu trả lời kết quả của Trung tâm Y tế thành phố R G, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Tòa án nhân dân thành phố R G có đầy đủ cơ sở kết luận Danh Si T là người nghiện ma túy, loại ma túy là Methamphetamine (ma túy đá) và T là người có nơi cư trú ổn định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Danh Si T thuộc trường hợp phải đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét thấy, Danh Si T là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính và nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện của mình, T vẫn bất chấp nhiều lần thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T là vi phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, ngoài ra việc sử dụng ma túy cũng là tiền đề tạo ra nhiều tệ nạn xấu, đặc biệt là dễ dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, làm mất trật tự, trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến bản thân T nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung. Vì vậy, việc Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố R G lập hồ sơ đưa Danh Si T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng người, đúng đối tượng.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G là có cơ sở và phù hợp nên ghi nhận.

Việc người bị đề nghị Danh Si T yêu cầu được cai nghiện tại nhà là không có căn cứ và không phù hợp với các quy định của pháp luật, nên không được chấp nhận.

Về các T tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người bị đề nghị:

Về tình tiết tăng nặng: Người bị đề nghị không có T tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình lập hồ sơ, cũng như tại phiên họp người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về nhân thân: Danh Si T là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng T không lấy đó làm bài học, lại đi vào con đường nghiện ngập, thể hiện sự không hướng thiện, cũng như ý thức xem thường pháp luật.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người bị đề nghị áp dụng: Xét thấy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Danh Si T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian nhằm giúp đỡ T có thời gian cắt cơn, giải độc, cai nghiện ma túy, tạo điều kiện để T được lao động, học tập, giáo dục pháp luật, hướng nghiệp, dạy nghề, sinh hoạt lành mạnh, sớm tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội. Tòa án nhân dân thành phố R G căn cứ vào khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố R G đưa Danh Si T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Danh Si T.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 18 tháng (Mười tám tháng), kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang.

3. Ông Danh Si T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố R G có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị mà không có khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố R G, tỉnh Kiên Giang; Công an phường V T, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang và Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang có trách nhiệm thi hành quyết định này./.

Cỡ chữ