- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Hoàng T (Sửu), sinh năm 1999; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: KDC, Khóm M, phường V, thành phố Đ, tỉnh An Giang; 2.
- Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 159 /QĐ-TA | Đ, ngày 30 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Phạm Thị Bích Thủy.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Phát Huy.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 166/QĐ-TA ngày 23 tháng 11 năm 2018 đối với:
Ngô Hoàng T (Sửu), sinh năm 1999; Giới tính: Nam;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu dân cư khóm M, phường V, thành phố Đ, tỉnh An Giang;
Nghề nghiệp: làm thuê;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Phật;
Trình độ văn hóa: 6/12;
Chỗ ở hiện nay: KDC, Khóm M, phường V, thành phố Đ, tỉnh An Giang.
Tiền án;Không.
Tiền sự: Không.
Con ông Lê Văn C (chết) và bà Ngô Kim T1.
Ngô Hoàng T có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh Nhã – Can bộ phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ đại diện theo ủy quyền, (có mặt).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên họp: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên, (có mặt).
NHẬN THẤY:
Ngày 27/02/2018 Ngô Hoàng T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an phường V mời làm việc và đưa xét nghiệm chất ma túy với kết quả dương tính. Đồng thời, Công an phường V lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T. Cùng ngày Ủy ban nhân dân phường V ban hành quyết định số: 54/QĐ-UB áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường đối với T, thời gian giáo dục là 03 tháng kể từ ngày 27/02/2018 đến ngày 27/5/2018. Ngày 28/5/2018 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường V cấp Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường số 16/GCN-UBND đối với T . Sau đó, T tiếp tục sử dụng chất ma túy nên ngày 10/9/2018 bị Công an phường V đưa T xét nghiệm, kết quả dương tính. Công an phường V lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T. Ngày 10/9/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường V ban hành Quyết định số 257/QĐ-UBND về việc giao cho Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T và thông báo cho gia đình T biết. Biên bản xác minh ngày 07/11/2018 do Công an phường V lập có xác nhận của Trung tâm y tế thành phố Đ, cung cấp đối tượng Ngô Hoàng T từ trước đến nay không tham gia chương trình uống Methadone tại cơ sở. Ngày 07/11//2018, Ủy ban nhân dân phường V làm Tờ trình Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T nhằm giúp đỡ T có điều kiện cai nghiện, học nghề để trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội. Theo Thông báo số 150/TB - PTP ngày 19/11/2018, Phòng Tư pháp thành phố Đ đã kết luận, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T bảo đảm về tính pháp lý. Ngày 20/11/2018, Phòng Lao động thương binh và xã hội có văn bản số 151/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối Ngô Hoàng T, thời hạn tập trung từ 18 tháng đến 24 tháng. Tại phiên họp,
- Ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố Đ giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T với thời gian tập trung cai nghiện từ 18 tháng đến 24 tháng.
- Ý kiến của Ngô Hoàng T: Xác định có sử dụng ma túy như hồ sơ thể hiện và xin áp dụng thời gian cai nghiện thấp.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
+ Việc tuân theo pháp luật của Tòa án, từ khi thụ lý đến thời điểm này, Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 3, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 14, 16, 17, 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014.
+ Về điều kiện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, T đã thành niên, có hành vi sử dụng ma túy và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện nên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Vì vậy, đề nghị Toà án nhân dân thành phố Đ chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
XÉT THẤY:
Về tố tụng:
Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động thương binh và xã hội đầy đủ thủ tục, phù hợp với Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về nội dung:
Tại phiên họp, T thừa nhận vào ngày 10/9/2018 có sử dụng ma túy, Công an phường V đưa đi xét nghiệm, kết quả dương tính với chất ma túy và lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Lời khai nhận của T tại phiên họp phù hợp với các kết quả xét nghiệm của cơ quan chuyên môn, lời khai của T tại Tờ tường trình, biên bản ghi lời khai, biên bản vi phạm hành chính do Công an phường V lập và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đề nghị.
Xét T đã thành niên, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường mà vẫn còn vi phạm. Vì vậy, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên chấp nhận.
Về tình tiết giảm nhẹ, T có thái độ thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Cho nên, cần xét giảm nhẹ cho T khi quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104, Điều 110, khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Hoàng T (Sửu), sinh năm 1999; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: KDC, Khóm M, phường V, thành phố Đ, tỉnh An Giang; 2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở điều trị cai nghiện bắt buộc (ngày 10 tháng 9 năm 2018) 3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Đ, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định. Thời hạn khiếu nại của Ngô Hoàng T (Sửu) là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án Công bố Quyết định. 4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố chủ trì phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố đưa Ngô Hoàng T (Sửu) vào Cơ Sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Phòng LĐTB&XH TP. Đ; - Ủy ban nhân dân phường V; - Công an phường V; - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy - TAG; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố; - Đội CSĐTTPMT-CA TP. Đ; - Công an TP. Đ; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Phạm Thị Bích Thủy |