- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 156 /2022/QĐST - HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 19 tháng 12 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Thị Lệ Thu
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Hạnh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 240/2022/TLST
- HNGĐ ngày 16/11/2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 161/2022/QĐ-TA ngày 12/12/2022 gồm những người tham gia tố tụng sau:
Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
- Chị Đặng Thị T, sinh năm 1993, HKTT: Tổ 8 phường N, Thị xã H, tỉnh H, Chổ ở hiện nay: Thôn 1, xã X, huyện N, tỉnh H; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Anh Võ Văn S, sinh năm 1988; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Tổ 8, phường N, Thị xã H, tỉnh H. (Hiện đang lao động tự do tại Philippines - Vắng mặt tại phiên họp).
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai chị Đặng Thị T trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 25/01/2011 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh H trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc hòa thuận được khoảng hơn 03 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cải vã, sống không hạnh phúc. Đến cuối năm 2019, anh Sơn đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài, vợ chồng sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Hiện tại, cả hai đều nhận thấy tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên chị Đặng Thị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung cháu Võ Đặng Thiên Long, sinh ngày 17/02/2012. Hiện tại, cháu đang sống cùng ông bà nội ông Võ Văn Thu và bà Đinh Thị Hải tại Tổ 8, phường N, Thị xã H, tỉnh H. Khi ly hôn chị Thương có nguyện vọng giao con chung cho anh Võ Văn S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, trong thời gian anh Sơn đang lao động tại Philippines cháu Thiên Long tiếp tục sống cùng ông bà nội. Chị Đặng Thị T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Võ Văn S, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi thông báo thụ lý vụ án và được người thân của anh nhận thay. Quá trình xác minh người thân của anh Sơn cung cấp thông tin hiện nay anh đang lao động tự do tại Philippines nhưng không có địa chỉ cụ thể nên không thể cung cấp cho tòa án. Anh Sơn cũng đã biết được việc chị Thương làm đơn xin ly hôn và anh cũng hoàn toàn nhất trí như yêu cầu ly hôn của chị Thương.
Tại phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 26/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao, Công văn số 253 ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao: Về tình cảm: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S; Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S: Giao con chung Võ Đặng Thiên Long, sinh ngày 17/02/2012 cho anh Võ Văn S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, trong thời gian anh Sơn đang lao động tự do tại Philippines cháu Th tiếp tục sống cùng ông bà nội. Chị Đặng Thị T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Tại Công văn số 22457/QLXNC-P5 ngày 26/10/2022 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ công an thể hiện: Anh Võ Văn S, sinh ngày 16/5/1988, CMTND số xxxxxxxxx, Hộ khẩu thường trú: Tổ 8, phường N, Thị xã H, tỉnh H đã xuất nhập cảnh 03 lần, gần đây nhất vào ngày 17/11/2019 qua Sân bay quốc tế Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, các Điều 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29, 37, 39, 464, của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Để đảm bảo giải quyết vụ việc đúng quy định pháp luật, Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về anh Võ Văn S thông qua ông Võ Văn Th (bố đẻ anh S) và được ông cung cấp thông tin hiện nay anh Võ Văn S đang lao động tại Philippines và thường xuyên liên lạc về với gia đình qua điện thoại nhưng địa chỉ cụ thể của anh Sơn tại Philippines gia đình không rõ. Tòa án đã kết nối điện thoại qua cuộc gọi hình ảnh trên ứng dụng messenger với sự chứng kiến của ông Võ Văn Th và đại diện chính quyền địa phương xác nhận anh Võ Văn S là chồng chị Đặng Thị T. Trao đổi qua điện thoại, anh S trình bày thống nhất về thời gian, địa điểm kết hôn, cuộc sống vợ chồng, quan hệ con chung đúng như chị Đặng Thị T đã trình bày. Vợ chồng sống cách xa nhau nhiều năm nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, cả hai thiếu sự quan tâm và chia sẽ với nhau, hiện tại, anh cũng nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, nên chị Đặng Thị T làm đơn ly hôn anh cũng nhất trí ly hôn; Về con chung: Vợ chồng đã có sự bàn bạc và thống nhất sau khi ly hôn anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Võ Đặng Thiên Long, sinh ngày 17/02/2012 đến tuổi trưởng thành, trong thời gian anh đang lao động tự do tại Philippines cháu Th tiếp tục sống cùng ông bà nội ông Võ Văn Th và bà Đinh Thị H. Chị Đặng Thị T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh Sơn trình bày thêm hiện tại anh đang lao động tự do tại Philippines do điều kiện công việc anh không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn vắng mặt, anh đồng ý việc Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân ở Việt Nam là bố đẻ ông Võ Văn Th; địa chỉ: Tổ 8 phường N, Thị xã H, tỉnh H. Ông Võ Văn Th cũng nhất trí nội dung anh Võ Văn S đã trình bày. Xét thấy, chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S đã thống nhất thỏa thuận được với nhau về quan hệ tình cảm, con chung, tài sản chung, nợ chung. Vì vậy, Tòa án căn cứ quy định tại Điều 29, 361 Bộ luật tố tụng dân sự chuyển quan hệ pháp luật từ vụ án “Ly hôn” thành “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” và căn cứ Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án thực hiện tống đạt văn bản tố tụng cho anh Sơn thông qua người thân là bố đẻ ông Võ Văn Th.
Chị Đặng Thị T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, anh Võ Văn S đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S theo thủ tục chung.
Anh Võ Văn S hiện đang lao động tự do tại Philippines không thể về Việt Nam, chị Đặng Thị T có văn bản đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Căn cứ các Điều 205, 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã ban hành Thông báo số 82/TB – TA ngày 02/12/2022 về việc vụ việc không hòa giải được.
Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc hôn nhân gia đình theo đúng quy định pháp luật.
Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu chứng cứ và tiến hành xác minh tài liệu chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ là tuân thủ quy định tại các điều 93, 94, 95, 96, 97, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 25/01/2011 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh H nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vì vợ chồng sống cách xa nhau, thiếu sự quan tâm, chăm sóc, chia sẽ nên tình cảm dần phai nhạt. Hiện tại, chị Đặng Thị T và anh Sơn đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục, duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa, mong muốn được ly hôn để tạo lập cuộc sống mới.
Xét thấy: Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...nhưng hôn nhân giữa chị Đặng Thị T và anh S không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, chung thủy, giúp đỡ nhau.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).
Như vậy, chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
Về quan hệ con chung: Chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S có 01 con chung, khi ly hôn vợ chồng đều thống nhất giao con chung Võ Đặng Th L, sinh ngày 17/02/2012 cho anh Võ Văn S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, trong thời gian anh Sơn đang lao động tự do tại Philippines cháu Th L tiếp tục sống cùng ông bà nội. Chị Đặng Thị T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở. Xét thấy, hiện tại cháu Thiên Long đang sống cùng ông bà nội, được ông bà chăm sóc cháu phát triển tốt cả về thể chất và tinh thần, sau ly hôn chị Đặng Thị T cũng có kế hoạch đi làm ăn xa quê, do đó việc giao cháu cho anh Sơn chăm sóc, nuôi dưỡng, trong thời gian anh Sơn đang sống tại nước ngoài cháu sống cùng ông bà nội như hiện tại là phù hợp. Ông nội Võ Văn Th cũng nhất trí nội dung thỏa thuận vợ chồng về việc chăm sóc nuôi dưỡng cháu. Cháu Thiên Long cũng có đơn trình bày nguyện vọng muốn sống cùng bố, trong khi bố đang làm việc tại nước ngoài cháu sống cùng bà nội. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống thường ngày và đảm bảo điều kiện sống ổn định cho cháu cần căn cứ quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của vợ chồng về việc chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng các con chung như các đương sự đã trình bày.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Từ những phân tích trên, xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn, nuôi con chung của chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S.
Về lệ phí: Các đương sự phải chịu lệ phí việc Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 146, 149, 361, 367, 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83 khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 4, 6, 9, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S.
2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Đặng Thị T và anh Võ Văn S: Giao con chung Võ Đặng Th L, sinh ngày 17/02/2012 cho anh Võ Văn S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), trong thời gian anh S đang lao động tự do tại Philippines cháu Thiên L tiếp tục sống cùng ông bà nội ông Võ Văn Th, bà Đinh Thị tại Tổ 8, phường N, Thị xã H, tỉnh H. Chị Đặng Thị T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
3 Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Đặng Thị T (đã nộp tại biên lai số 0000393 ngày 16/11/2022 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKS, THA tỉnh Hà Tĩnh; - Các đương sự; - Nơi ĐKKH; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC HNGĐ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trương Thị Lệ Thu |