vanban.org

Quyết định 156/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/06/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Cao Tiến T:

Tuyên bố bà Cao Thị Ngọc D, sinh năm 1957, có nơi cư trú cuối cùng tại đường M, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, là đã chết kể từ ngày 02/01/1986. Việc đăng ký khai tử cho bà Cao Thị Ngọc D được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người đã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Cao Tiến T:
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 156/2021/QĐST-DSTân Bình, ngày 24 tháng 6 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thụy Hồng Châu.

Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Võ Ngọc Liên Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 28/2021/TLST-DS ngày 28 tháng 01 năm 2021 về việc “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 47/2021/QĐST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Cao Tiến T, sinh năm 1954; địa chỉ: đường M, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị Hoàng V, sinh năm 1979; địa chỉ: đường L, Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu (Văn bản ủy quyền ngày 16/9/2020).

(Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Cao Tiến T nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố bà Cao Thị Ngọc D, sinh năm 1957 (có nơi cư trú cuối cùng tại đường M, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) là đã chết.

Bà Nguyễn Thị Hoàng V, là người đại diện theo ủy quyền của ông Cao Tiến T trình bày: Cha ông Cao Tiến T là ông Cao Văn P, sinh năm 1914, chết năm 1980, mẹ là bà Lê Thị H, sinh năm 1917, chết năm 1999. Cha mẹ ông T có 04 người con gồm: Cao Văn Đ, sinh năm 1937, chết năm 2010; Cao Tiến T, sinh năm 1954; Cao Thị Ngọc L, sinh năm 1955, chết năm 2007 và Cao Thị Ngọc D, sinh năm 1957, bỏ đi vượt biên từ năm 1980.

Bà D từ khi sinh ra đến năm 1980 sống cùng gia đình tại đường M, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, bà D không có chồng, không có con. Năm 1980 bà D vượt biên, không rõ tung tích cho đến nay. Ông T đã thực hiện thủ tục thông báo, đăng tin tìm kiếm bà D trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức gì. Nay ông T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà D là đã chết để thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế do cha mẹ chết để lại theo qui định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Bình nhận định: [1] Về thẩm quyền giải quyết: Ông Cao Tiến T có đơn yêu cầu tuyên bố bà Cao Thị Ngọc D, sinh năm 1957 là đã chết. Bà D có địa chỉ cư trú cuối cùng tại: đường M, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Xét yêu cầu của ông Cao Tiến T về việc yêu cầu tuyên bố bà Cao Thị Ngọc D là đã chết: Theo lời trình bày của công Cao Tiến T và các chứng cứ tài liệu nộp kèm đơn yêu cầu thì: ông Cao Văn P, sinh năm 1914, chết năm 1980 (Giấy chứng tử số 29/1980, quyển số 1/P.12 do Ủy ban nhân dân Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/8/1980) và bà Lê Thị H, sinh năm 1917, chết năm 1999 (Giấy chứng tử số 02/1999, quyển số 01/P12 do Ủy ban nhân dân Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/01/1999) có 4 người con là: Cao Văn Đ, sinh năm 1937, chết năm 2010 (theo Giấy khai sinh của Tòa Hòa giải S ngày 14/01/1959, quyển số 3478 và Giấy khai tử số 81 ngày 26/10/2010 tại Ủy ban nhân dân phường B, Quận M, TPHCM); Cao Tiến T, sinh năm 1954 (theo Giấy khai sinh của Tòa Hòa giải S ngày 25/5/1962, quyển số 3273); Cao Thị Ngọc L, sinh năm 1955, chết năm 2007 (theo Giấy khai sinh của Ủy ban nhân dân Quận B, Sài Gòn ngày 08/2/1955 và Giấy khai tử số 100/2007 ngày 14/11/2007) và Cao Thị Ngọc D, sinh năm 1957 (theo Giấy khai sinh số I3.I72 do Ủy ban nhân dân Quận B, Sài Gòn cấp ngày 18/12/1957), bà D bỏ đi vượt biên từ năm 1980. Xét yêu cầu của ông Cao Tiến T, nhận thấy: Tại Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu do Công an quận T xác nhận ngày 18/9/2020 có nội dung: Giấy chứng nhận NK4 Công an quận T cấp ngày 01/10/1976 có bà Cao Thị Ngọc D, sinh năm 1957 đăng ký thường trú tại đường M, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Phiếu trả lời kết quả xác minh của Công an Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 27/01/2021 xác nhận: “Bà Cao Thị Ngọc D, sinh năm 1957, gia đình trích lục hồ sơ hộ khẩu tại tàng thư Công an quận T có tên trong danh sách NK4 tại địa chỉ đường M, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; thời gian đi khỏi địa phương theo gia đình cung cấp từ năm 1980, địa phương không nắm được địa chỉ nơi đến, hàng xóm xung quanh không ai biết”. Theo ông T khai bà D bỏ nhà đi vượt biên từ năm 1980 đến nay không rõ tin tức. Thực hiện theo Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 01/2020/QĐ-TA ngày 01/02/2021, ông T đã tiến hành việc tìm kiếm bà D trên các phương tiện truyền thông, cụ thể là nhắn tin tìm kiếm trên báo Lao động các số 38, 39, 40 các ngày 22, 23 và 24/2/2021 và đăng tin trên Đài tiếng nói Việt Nam các ngày 22, 23 và 24/2/2021 và ngày 03/02/2021 có văn bản gửi đăng Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì xác thực là bà D còn sống.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Tân Bình đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Cao Tiến T về việc tuyên bố bà Cao Thị Ngọc D, sinh năm 1957, có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ đường M, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Xét thấy bà Cao Thị Ngọc D đã biệt tích 05 năm liền trở lên (từ năm 1980) và không có tin tức xác thực là còn sống nên Tòa án có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Cao Tiến T về việc tuyên bố bà Cao Thị Ngọc D là đã chết theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về ngày chết của bà D: theo lời trình bày của ông T và xác minh của Công an Phường H, quận T thì bà D bỏ nhà đi vượt biên từ năm 1980, không xác định rõ ngày tháng. Do đó, ngày chết của bà D là ngày kế tiếp của ngày sau 05 (năm) năm kể từ ngày biệt tích, vì không nhớ rõ ngày, tháng của năm 1980 nên căn cứ khoản 1 Điều 68 ; điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015 “Nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng, thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng”. Như vậy ngày có tin tức cuối cùng là ngày 01/01/1981, ngày chết là ngày kế tiếp của ngày sau 05 (năm) năm ngày có tin tức cuối cùng nên ngày chết của bà D được xác định là ngày 02/01/1986.

Ông T thực hiện việc đăng ký khai tử cho bà Cao Thị Ngọc D theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Tài sản của bà D (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) do ông Cao Tiến T chịu, được cấn trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng ông T đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0069063 ngày 27/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 68, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 393 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Cao Tiến T:

Tuyên bố bà Cao Thị Ngọc D, sinh năm 1957, có nơi cư trú cuối cùng tại đường M, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, là đã chết kể từ ngày 02/01/1986. Việc đăng ký khai tử cho bà Cao Thị Ngọc D được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của bà Cao Thị Ngọc D (nếu có) được giải quyết theo qui định của pháp luật về thừa kế. 2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Lệ phí là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng do ông Cao Tiến T chịu, được cấn trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng ông T đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0069063 ngày 27/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn tính từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được quyền kháng nghị trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. 4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ