- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà — án dân sự — "Vũ Văn T-Nguyễn Thị Hồng M"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
Số: 156/2020/QĐ-PT
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 3 năm 2020
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Lại Huỳnh Tú
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Bá Thịnh
Bà Lê Thị Ngọc Hương
Thư ký ghi biên bản: Bà Nguyễn Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Cao Hoàng Thắng - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 587/2019/QĐST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào Điều 48, điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 218 và Điều 219 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 75/2019/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” giữa:
Nguyên đơn: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1975
Địa chỉ: Đường P, Phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1995
Địa chỉ: Đường N, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng M
Địa chỉ: Đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1975
Địa chỉ: Đường Q, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại đơn kháng cáo ngày 23 tháng 12 năm 2019 của ông Vũ Văn T là nguyên đơn trong vụ án kháng cáo với lý do:
Tòa án nhân dân quận G cho rằng đối tượng tranh chấp là căn nhà 65/D40 đường M, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đã được Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bằng bản án dân sự phúc thẩm số 946/2014/DS-PT ngày 30 tháng 7 năm 2014 để ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng quy định
1 pháp luật vì Tòa án cấp phúc thẩm trước đây đã xác định sai tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án, cụ thể xác định ông Hoàng Văn H là bị đơn trong khi đó ông H chỉ là người được bà Nguyễn Thị Hồng M ủy quyền thực hiện việc mua bán căn nhà (theo hợp đồng ủy quyền số 009806 ngày 20/10/2009 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Tạc). Nay trong hồ sơ vụ án thụ lý số 75/2019/TLST-DS ngày 15/02/2019 của Tòa án nhân dân quận G thì ông khởi kiện bà Nguyễn Thị Hồng M và đối tượng tranh chấp là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất số 006076/HĐ-CNQSDĐ ngày 07/7/2020 chứ không phải hợp đồng ủy quyền của ông Hoàng Văn H nên không thể cho rằng vụ án đã được giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng phúc thẩm căn cứ điểm g khoản 1 Điều 217, khoản 3 Điều 218, điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
XÉT THẤY:
Về hình thức:
Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 6587/2019/QĐST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tống đạt hợp lệ cho bà Trần Thị Thu H (đại diện theo ủy quyền của ông Vũ Văn T) ngày 18 tháng 12 năm 2019.
Ngày 23 tháng 12 năm 2019, ông T nộp đơn kháng cáo Quyết định đình chỉ vụ án dân sự nêu trên và đã tiến hành thủ tục nộp tạm ứng án phí phúc thẩm.
Việc kháng cáo của ông T nằm trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.
Về nội dung:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/11/2018, ông Vũ Văn T khởi kiện bà Nguyễn Thị Hồng M về viêc “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” đối với căn nhà tọa lạc tại số 65/D40 đường số M, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, ông T yêu cầu bà M thực hiện nghĩa vụ giao nhà theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất số 006076/HĐ-CNQSDĐ ngày 07/7/2010 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Tạc và việc mua bán nhà được thực hiện thông qua người đại diện theo ủy quyền của bà M là ông Hoàng Văn H (theo hợp đồng ủy quyền số 009806 ngày 20/10/2009 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Tạc).
Ngày 30 tháng 7 năm 2014, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử vụ án thụ lý số 189/2014/TLPT-DS ngày 08 tháng 5 năm 2014 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” giữa nguyên đơn là ông Vũ Văn T với bị đơn là ông Hoàng Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Hồng M bằng bản án dân sự phúc thẩm số 946/2014/DS-PT và đã tuyên xử:
“1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn T, đòi ông Hoàng Văn H giao nhà để thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
2 đất có tài sản gắn liền tài sản với đất số 006076/HĐ-CNQSDĐ tọa lạc tại số 65/D40 đường số M, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh ký ngày 07/7/2010 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị T.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền tài sản với đất số 006076/HĐ-CNQSDĐ tọa lạc tại số 65/D40 đường số M, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh giữa bên chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị Hồng M do ông Hoàng Văn H làm đại diện theo Hợp đồng ủy quyền số 009806; Bên nhận chuyển nhượng là ông Vũ Văn T, ký ngày 07/7/2020 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị T…
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án”
Như vậy, quan hệ tranh chấp mà Tòa án nhân dân quận G đang giải quyết theo hồ sơ vụ án thụ lý số 75/2019/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2019 là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất (tọa lạc tại số 65/D40 đường số M, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) số 006076/HĐ-CNQSDĐ ngày 07/7/10 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị T giữa bên chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị Hồng M do ông Hoàng Văn H làm đại diện theo Hợp đồng ủy quyền số 009806 với bên nhận chuyển nhượng là ông Vũ Văn T đã được giải quyết bằng án dân sự phúc thẩm số 946/2014/DS-PT ngày 30 tháng 7 năm 2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có hiệu lực pháp luật.
Do đó, Tòa án nhân dân quận G đã căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để từ đó bản hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là đúng quy định pháp luật.
Từ những lý lẽ đã viện dẫn, hội đồng phúc thẩm xét kháng cáo chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Vũ Văn T.
Về án phí: Do giữ nguyên quyết định sơ thẩm bị kháng cáo nên ông T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Văn T.
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 587/2019/QĐST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Vũ Văn T chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm do ông T đã nộp theo biên lai thu số 0025409 ngày 21 tháng 12 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận G. Ông T đã nộp đủ án phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
3 Nơi!nhận:!
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
- TANDTC;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND quận Gò Vấp;
- Chi cục THADS Q.GV;
- Ông Vũ Văn T;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án (T/15).
Lại Huỳnh Tú
Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Vũ Văn T chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm do ông T đã nộp theo biên lai thu số 0025409 ngày 21 tháng 12 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Ông T đã nộp đủ án phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
4
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
Lại Huỳnh Tú
5