vanban.org

Quyết định 155/QĐ-TA

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 30/11/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với Nguyễn Minh T, sinh năm 1993; nơi cư trú: tổ 05, K1, phường A, thành phố Đ, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: tổ 05, K1, phường A, thành phố Đ, tỉnh An Giang. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng, kể từ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
  • Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 155/QĐ-TA

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kiều Nga.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Phát Huy.

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An

Giang, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý

hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số

162/QĐ-TA ngày 22 tháng 11 năm 2018 đối với:

Nguyễn Minh T, sinh năm 1993; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: tổ 05, K1, phường A, thành phố Đ, tỉnh An Giang;

Nghề nghiệp: làm thuê;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Cao Đài;

Trình độ văn hóa: 05/12.

Chỗ ở hiện nay: tổ 05, K1, phường A, thành phố Đ, tỉnh An Giang;

Tiền án, tiền sự: chưa.

Con ông Nguyễn Phước H và bà Văn Thanh Th.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh Nhã – Cán bộ Phòng Lao

động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ; là đại diện theo ủy quyền; có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên họp: Ông

Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên; có mặt.

NHẬN THẤY:

Ngày 17/6/2018, T bị Công an phường A mời làm việc về hành vi sử dụng

trái phép chất ma túy và đưa đi xét nghiệm ma túy với kết quả dương tính. Do đó, lập biên bản vi phạm đối với T.

Đến ngày 17/7/2018, Ủy ban nhân dân phường A ban hành Quyết định số

275/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với T với thời gian giáo dục 03 tháng, từ ngày 17/7/2018 đến ngày 17/10/2018.

Ngày 10/10/2018, T tiếp tục sử dụng chất ma túy đến ngày 11/10/2018 bị

công an phường A mời thử test kết quả dương tính với chất ma túy và lập biên bản vi phạm. Đồng thời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ban hành Quyết định số 359/QĐ-UB chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường.

Ngày 11/10/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ban hành Quyết định

số 360/QĐ-UBND về việc giao cho Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.

Ngày 29/10/2018, Ủy ban nhân dân phường A ban hành Văn bản Đề nghị số

379/CV-UBND đề nghị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội và Phòng Tư pháp thành phố Đ xem xét việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T nhằm giúp đỡ T có điều kiện cai nghiện, học nghề để trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội.

Theo Thông báo số 148/TB-PTP ngày 09/11/2018, Phòng Tư pháp thành

phố Đ kết luận, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T bảo đảm về tính pháp lý.

Ngày 19/11/2018, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Đ

ban hành văn bản số 141/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T với thời hạn tập trung từ 18 đến 24 tháng.

Tại phiên họp:

- Ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố

Đ: Giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T với thời gian tập trung cai nghiện từ 18 đến 24 tháng.

- Ý kiến của T: Xác định có sử dụng ma túy như hồ sơ thể hiện, chấp nhận

đề nghị của Cơ quan đề nghị và xin áp dụng thời gian cai nghiện thấp.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

+ Việc tuân theo pháp luật của Tòa án, từ khi thụ lý đến thời điểm này,

Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 3, 8, 9 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014.

+ Về điều kiện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, T đã

bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường theo Quyết định số 275/QĐ-UBND

ngày 17/7/2018 của Ủy ban nhân dân phường A với thời gian 03 tháng (kể từ ngày

17/7/2018 đến ngày 17/10/2018). Trong thời gian bị áp dụng biện pháp giáo dục tại

phường vào ngày 10/10/2018, T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy đến ngày

11/10/2018 bị công an phường A mời thử test kết quả dương tính với chất ma túy và

lập biên bản vi phạm. Đồng thời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ban hành

Quyết định số 359/QĐ-UBND chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại

phường.

Vì vậy, việc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ ban

hành Văn bản số 141/LĐTBXH ngày 19/11/2018 đề nghị Tòa án đưa T vào Cơ

sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi

phạm hành chính năm 2012.

Đề nghị Toà án nhân dân thành phố Đ chấp nhận đề nghị của Phòng Lao

động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.

XÉT THẤY:

Về tố tụng:

Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ

đúng quy định tại Điều 104 Luật xử lý vi phạm Hnh chính năm 2012.

Về nội dung:

Tại phiên họp, người bị đề nghị thừa nhận, vào ngày 17/6/2018, T có sử

dụng ma túy Công an phường A đưa T đi xét nghiệm, kết quả dương tính với chất

ma túy và lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. T bị Chủ tịch Ủy

ban nhân dân phường A áp dụng biện pháp giáo dục tại phường. Đến ngày

10/10/2018, T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy đến ngày 11/10/2018 bị Công

an phường A đưa đi xét nghiệm với kết quả dương tính và lập biên bản vi phạm.

Lời khai nhận của T tại phiên họp phù hợp với các kết quả xét nghiệm của

cơ quan cHên môn, lời khai của T tại các bản tường trình ngày 17/6/2018 và

ngày 11/10/2018, biên bản ghi lời khai, biên bản vi phạm hành chính do Công

an phường A lập và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đề nghị.

Xét Nguyễn Minh T đã thành niên, có hành vi sử dụng trái phép chất ma

túy đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường mà vẫn tiếp tục vi phạm. Vì

vậy, việc Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ đề nghị

đưa T vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96

Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên chấp nhận.

Về tình tiết giảm nhẹ, T có thái độ thành khẩn khai báo là tình tiết giảm

nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Cho nên, cần

xét giảm nhẹ cho T khi quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104,

Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với Nguyễn Minh T, sinh năm 1993; nơi cư trú: tổ 05, K1, phường A, thành phố Đ, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: tổ 05, K1, phường A, thành phố Đ, tỉnh An Giang.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng, kể từ

ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 11 tháng 10 năm 2018).

3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành

phố Đ và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thời hạn khiếu nại của Nguyễn Minh T là 03 ngày làm việc kể từ ngày

Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan T hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và xã hội

thành phố Đ phối hợp với Công an thành phố Đ đưa Nguyễn Minh T vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.

Cỡ chữ